chương 1 nên trong chương 2 tác giả đã không phân tích được các hoạt động tài trợ rủi ro mà ngân hàng TMCP Quân đội chỉ nhánh Quảng Trị thực hiện cũng như bỏ qua việc phân tích đánh giá một số tiêu chí về hiệu quả của hoạt động QTRR tại chỉ nhánh. Trong các luận văn được nghiên cứu, các tác giả đều đã xác định rõ vấn đề nghiên cứu, có bố cục rõ ràng đi tuần tự từ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, đưa ra các giải pháp. Trong số các luận văn nêu trên, luận văn của tác giả Dương Thị Anh Thư làm kỹ phẩn phân tích thực trạng, khi không chỉ nêu. mà tác giả có sự phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động QTRRTD tại ngân hàng TMCP Quân đội ~ chỉ nhánh Quảng Trị.
Bên cạnh các ưu điểm kể trên thi có một số hạn chế mà các luận văn còn tồn tại, cụ thẻ là các luận văn nêu trên đều đi theo một lối mòn khi sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp làm phương pháp nghiên cứu. Chưa có sự đa dạng trong việc thu thập dữ liệu bên ngoài ngân hàng, nguồn dữ liệu đều là dữ liệu thứ cấp trong. nội bộ ngân hàng, dẫn tới kết quả nghiên cứu còn chung chung, thiếu thuyết phục. Đặc biệt phần phân tích thực trạng một số luận văn còn chưa làm rõ, mới chỉ dừng lại ở việc nêu các rủi ro cũng như việc thực hiện hoạt ng QTRRTD, còn thiếu phân tích các tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động QTRR, thiếu phân tích thực trạng hoạt động QTRR dẫn đến việc đánh giá và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện hoạt động QTRRTD tại các ngân hằng còn chung chung, rp khuôn chưa bám sát vào thực tế.
“Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích các luận văn kể trên, tác giả đã có sự kế thừa các ưu điểm đề vận dụng vào trong đề tài của mìi chế còn tồn tại đã chỉ ra sẽ được tác giả chú ý khắc phục. nữa, tránh lập lại trong để tài nghiên cứu. Về nội dung: Chưa có nghiên cứu nào mới về hoạt động QTRRTD đối với KHCN trong thời gian 2017 trở lại đây khi mà một số văn bản, quy định mới của NHNN có hiệu lực. Có thể kể đến thông tư số 41⁄2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài, trong thông tư này đã có một số đổi mới so với trước đây đối với tín dụng KHCN ví dụ như trong việc cấp tín dụng bán lẻ với đối tượng là KHCN thì số dư cắp tín dụng tối đa không được vượt quá 8 ty dd \g, một số điểm mới về hệ số rủi ro áp dụng cho khoản vay thế chấp nhà ở theo tỷ lệ đảm bảo và tỷ lệ thu nhập.Hoặc thông tư số 13/2018/NHNN ngày 18/5/2018 của NHNN Việt Nam quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong đó yêu cầu hệ thống kiểm soát nội bộ phải có 3 tuyến độc lập, các quy định cụ thẻ về kiểm soát nội bộ và QTRR.
'Về không gian: Vẫn chưa có bắt cứ công trình nào nghiên cứu về ngân hang Vietinbank chỉ nhánh Kon Tum nói chung cũng như về hoạt động QTRRTD đối với KHCN nói riêng. Về phương pháp nghiên cứu: Đa số các công trình nghiên cứu chỉ tập trung sử dụng dữ liệu thứ cấp là dữ liệu ngân hàng, chưa kết hợp với dữ liệu sơ cấp là phỏng vấn các chuyên gia để có cái nhìn sâu rộng, khách quan hơn về thực trạng vấn đề nghiên cứu. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG QUAN TR] RUI RO TIN DUNG TAI NGAN HANG THUONG MAI 1.1 TONG QUAN VE TIN DUNG CUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm tín dụng. Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ rất lâu, nó xuất phát từ gốc la tỉnh “CREDITUM” có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm hay chính là lòng tin.
Theo cách biểu hiện này thì tín dụng là quan hệ vay vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn trả vào một thời điểm xác định trong tương lai. Có thể hiểu tổng quát về khái niệm tin dung: “Tin dung là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tién tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hỗi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban dau. "{1, trl5] Mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau : - Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, hàng hóa, máy móc, thiết bị, bất động sản.
~ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận người đi vay phải trả cho người cho vay. Thông thường, giá trị khi hoàn trả lớn hơn giá trị cho vay, nói cách khác người đi vay phải trả thêm một phn lợi tức. Trong xã hội có nhiều mối quan hệ tín dụng, có thể là quan hệ tín dụng. giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa quốc gia với quốc gia; trong đó phổ biến nhất, đóng vai trò chủ đạo là quan hệ tín dụng giữa cá cá nhân, tổ chức với một tô chức tín dụng đặc biệt là ngân hàng.
Theo quy 1 định của luật tổ chức tín dụng hợp nhất năm 2017 thì có thể hiểi dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khẩu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân làng và các nghiệp vụ cáp tin dụng khác "[9]. Từ những phân tích trên, có thê hiểu, tín dụng đối với KHCN của ngân hàng: Là việc ngân hàng thỏa thuận để cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản én theo nguyên tắc có hoàn trả bằng. nghiệp vu cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác 1.2 Các hình thức tín dụng, Mặc dù có nhiều nghiệp vụ tín dụng theo như khái nhiệm cấp tín dụng là nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và một số nghiệp vụ khác nhưng tín dụng đối với KHCN thì các ngân hàng phần lớn phát sinh nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cho vay. Day la nghiệp được tập trung nghiên cứu trong dé tài này.
Khái niệm: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiễn để sử dụng vào mục dich xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi" [9] > Các hình thức cho vay: «Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay: ~_ Cho vay ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm, dùng để bổ sung phần vốn lưu động còn thiếu trong quá trình kinh doanh của các cá nhân, tô chức hoặc được sử dụng đẻ mua sắm đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân, tổ chức. ~_ Cho vay trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên một năm đến dưới năm năm và sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản, cải tiến và đôi 12 mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc sửa chữa nhà cửa ~_ Cho vay đài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường áp dụng đối với các khoản vay cá nhân mua nhà đất, nhà chung cư; các khoản vay tô chức đề đầu tư dự án. Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi ro rất lớn bởi thời hạn cảng dai thì những biến động không thể dự tính có thẻ xảy ra cảng lớn «` Căn cứ vào tính chất bảo đảm của các khoản cho vay ~_ Cho vay có bảo đảm: Là loại hình tín dụng mà các khoản vay đều có tài sản giá trị tương đương thế chấp tại ngân hàng, có các hình thức như cầm cố, thế chấp và bảo lãnh. Tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh của bên thứ 3 là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn dự phòng khi nguồn thu chính (dòng.
tiền) của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộc con nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, ~_ Cho vay không có bảo đảm: Là loại hình tín dụng mà các khoản vay. không cần tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại tín dụng này thường. áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao.
Giá trị của những khoản vay không có bảo đảm thường không cao. ® Căn cứ vào mục đích vay vốn: ~ Cho vay tiêu dàng: Là hình thức tài trợ cho mục đích chỉ tiêu của KHCN, hộ gia đình. Các khoản cho vay là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như mua nhà, mua sắm các phương tiện đi lại, tiện nghỉ sinh hoạt, học tập. trước khi họ có đủ năng lực tài chính để hưởng thụ.
Hình thức cho vay này ngày càng có xu hướng mở rộng. ~_ Cho vay sản xuất kinh doanh: Là loại hình tín dụng được cấp cho các cá nhân, tổ chức dé bỗ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.2 RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Nhận thức chung về rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại Rủi ro là biến ngẫu nhiên xảy ra dẫn đến việc không đạt được các mụ tiêu (thấp hơn so với chỉ tiêu để ra); có xác xuất, tần xuất tác động, mức độ tác động3. Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn vẻ tài chính. Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dưới dạng phi tài chính gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng.
Trong hoạt động của một NHTM thì thường không phải bắt cứ những sự kiện nào xấu cũng là rủi ro, mà có thể là bắt trắc. Chỉ có tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bắt trắc.