Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung và dài hạn trong ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại SCB Đằng Tháp Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại $CB Đồng Tháp 6. Đánh giá chất lượng tín dụng trung, dài hạn tai SCB Đồng Tháp 6. Kết quả đạt được Qua phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với doanh nghiệp giai đoạn 2014-2017, không thể phủ nhận những kết quả mà SCB Đồng Tháp đã đạt được trong quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với doanh nghiệp, trên cả 3 mặt công tác: phòng ngừa rủi ro; kiểm soát rủi ro; và công tác khắc phục. xử lý rủi ro.
Trong công tác phòng ngừa rủi ro, chỉ nhánh thực hiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa khối Quan hệ khách hàng, khối Quản trị rủi ro và khối Tác nghiệp, đảm bảo quy trình cho vay được tuân thủ ở tắt cả các khâu. Phân cắp thẩm quyền chặt chẽ, rõ ràng và đảm bảo mọi quyết định trong công tác cho. vay đưa ra đều đúng thẳm quyền. Chính sách khách hàng được quy định cụ thể, dé áp dụng và đã bám sát, tuân thủ nghiêm túc, nhất là chính sách về tài sản bảo đảm.
Công tác kiểm soát rủi ro được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc đảm bảo phát hiện kịp thời các khoản vay có vấn đề. Việc sử dụng hệ thống XHTDNB đảm bảo tình hình hoạt động của khách hàng được cập nhật thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản trị rủi ro tín dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa rủi ro tin dụng. Báo cáo quản trị tín dụng định kỳ đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho hoạt động quản trị điều hành của ban giám đốc. Hoạt động kiểm tra nội bộ được tiến hành định kỳ, đột xuất, nội dung kiểm tra chỉ tiết, hoạt động kiểm tra nghiêm túc giúp phát hiện những thiếu sót trong công tác tín dụng để khắc phục kịp thời Công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện đủ, đúng quy định, đánh giá đúng rủi ro, cảnh báo chỉ nhánh điều chỉnh bước đi để duy trì chỉ tiêu an toàn, đảm bảo có nguồn bù đắp tổn thất trong trường hợp rủi ro xảy ra.
Tuy nhiên công tác này của SCB Đồng Tháp trong giai đoạn này còn bộc lộ và ân chứa những hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục. Hạn chế Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay với doanh nghiệp tại SCB Đồng Tháp vẫn còn có những hạn chế. ~_ Cơ cấu tín dụng chưa ôn định và hợp lý: tỷ lệ nợ trung dài hạn rất thấp. tỷ lệ dư nợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất cao và chỉ có 2 doanh nghiệp vay.
Chỉ nhánh chưa xác định được thị trường và lĩnh vực cho vay mục tiêu. ~ Quy trình cho vay chưa phát huy hết hiệu quả. Đó là do việc thực hiện nhiều khi chỉ mang tính hình thức, ước lệ cho đủ hồ sơ gi. tờ mà chất lượng phân tích, đánh giá vẫn không sát với thực tế, tần suất đi thực tế, thực địa hoạt động của khách hàng không thực sự thường xuyên (chỉ nhánh mặc định việc đi thực tế khách hàng là theo phát sinh sự vụ, sau giải ngân việc tiếp xúc, thực tế diễn ra hàng tháng, 3 tháng.
6 tháng/lần). ~_ Hệ thống thông tin tín dụng còn hạn chế về số lượng, tính chính xác và mức độ cập nhật. Chỉ nhánh chưa xây dựng được một nguồn dữ liệu tổng hợp về các ngành vii nhất có tính hệ thống và được cập nhật thường xuyên về khách hàng. Tuy nhiên, thông tin tín dụng mà trung tâm cung cấp trong những năm qua vẫn chưa đáp ứng.
được cả về mặt số lượng và chất lượng. Có trường hợp khách hàng doanh nghiệp đã và đang có nợ xấu tại một tổ chức tín dụng khác nhưng hệ thống CIC chưa kịp thời cập nhật, hoặc các thông tin thay đổi ngành nghề doanh nghiệp không được đưa vào hệ thống kịp thời cũng là yếu tố cản trở chỉ nhánh trong việc xác định chính xác uy tín, năng lực của doanh nghiệp. © Cac thông tin mang tính số liệu và phân tích về tài chính, về giá theo ngành, theo loại thị trường thực hiện bởi các cơ quan nhà nước chuyên ngành còn thiếu và không cập nhật. e Các cơ quan nhà nước không thiện chí trong việc hỗ trợ ngân hàng xác minh tính đúng đắn, hợp pháp của các quyền đối với tài sản của bên bảo đảm, trong.
việc cung cắp thông tin về tình trạng quy hoạch của tài sản bảo đảm là bất động sản. « Việc xác nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của cơ quan đăng ký giao dich bảo đảm không bao gồm thông tỉn về thứ tự ưu tiên thanh toán của tổ chức đề nghị đăng ký nên mặc dù tài sản đã được bảo đảm ở tổ chức tín dụng khác mà ngân hàng vẫn không biết và chấp nhận toàn bộ giá trị tài sản để xác định tỷ lệ cho vay và giá trị khấu trừ khi tính dự phòng rủi ro tín dụng. + Hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp chưa được cơ quan nhà nước kiểm soát chặt chẽ. BCTC của doanh nghiệp nhiều khi không phản ánh trung thực, chính xác hoạt động.
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Điều đó có thể do trình độ kế toán tài chính của doanh nghiệp còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp sử dụng các kỹ thuật sửa đổi BCTC gửi ngân hàng nhằm làm đẹp tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Ngân hàng vẫn phải chấp nhận các báo cáo này do không có thẩm quyền kiểm tra công tác hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Để làm rõ và chắc chắn hơn trong công tác thẳm định, cán bộ quan hệ khách hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp báo cáo tài chính thuế, tuy nhiên báo cáo này cũng chỉ để phân tích đánh giá thêm và giải trình trong. vi nghề kinh doanh, các chỉ số đặc trưng làm căn cứ đánh giá chất lượng khách hàng. ~ Hệ thống xếp hạng tín dụng không thường xuyên được cập nhật. Bộ chỉ tiêu chấm điểm chưa có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp có quy mô khác nhau.
Nội dung và tỷ trọng một số chỉ tiêu tài chính, phi tài chính chưa phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. ~ Công tác tổ chức định giá tài sản bảo đảm chưa hợp lý. Chỉ nhánh không có bộ phận định giá chuyên nghiệp, cán bộ quan hệ khách hàng có trách nhiệm định giá nhưng hầu hết chưa từng qua một chương trình đào tạo về định giá nào trong khi đây là một công tác đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao. Việc tái định giá không mang tính chủ động và không liên tục (định kỳ 6 tháng định giá 1 lần với những tài sản hình thành trong tương lai: dự án bắt động sản, 1 năm định giá lại với những tài sản đã hình thành và hiện hữu: như giấy chứng nhận sử dụng đất, máy móc nhà xưởng.
phương tiện cơ giới. ~_ Công tác quản trị rủi ro tín dụng hiện đã và đang sử dụng các phương tiện hiện đại như SIBS, chương trình XHTDNB, chương trình phân loại nợ. nhưng các công cụ này thiếu sự liên kết với nhau, cần nhiều thao tác thủ công để chương trình này có thể sử dụng kết quả của chương trình khác. Chỉ nhánh đang từng bước thực hiện công tác cảnh báo rủi ro thông qua công tác kiểm tra nội bộ và báo cáo quản lý tín dụng nhưng hiệu quả chưa rõ rệt.
Công tác kiểm tra nội bộ mới chỉ dừng lại ở việc tổ kiểm tra phát hiện ra lỗi và các bộ phận nghiệp vụ tự giác khắc phục sai sót, chưa có bước rà soát, kiểm soát công tác khắc phục. Nguyên nhân các hạn chế Những hạn chế trong chất lượng tín dụng trung và dài hạn còn nhiều và xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân khách quan + Hệ thống thông tin có thể khai thác từ cơ quan nhà nước chưa đáp ứng được công tác thẩm định khách hàng. thị trường, tài sản của tổ chức tín dụng: « Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC) là nguồn thông tin duy viii + Công tác thanh tra, kiểm tra của NHNN đối với NHTM còn chưa thường.
xuyên (2-3 năm/lần) và cũng chỉ có vai trò phát hiện sai sót mà chưa có chức năng cảnh báo trước rủi ro. + Một số khách hàng khi đề nghị vay vốn tỏ ra rất hợp tác nhưng sau khi được giải ngân hết thì lại không hợp tác với ngân hàng trong giám sát. kiểm tra sau cho vay nên sau cho vay ngân hàng không kiểm soát được khả năng trả nợ của khách hàng và không đánh giá được mức độ tín dụng. + Trong thời gian qua, thị trường tài chính ngân hàng đã trải qua nhiều biến động với tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng những khó khăn nội tại như lạm phát cao, biến động nhiều về lãi suất, tỷ giá.
có ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư của khách hàng gặp khó khăn tất yếu dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro trong. hoạt động cho vay của ngân hàng. Nguyên nhân chủ quan + Ban giám đốc chưa có chủ trương đưa ra một danh mục cho vay mục tiêu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và vẫn định hướng cán bộ tập trung đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp lớn kinh doanh bất động sản và các tổng công ty, tập đoàn nhà nước thuộc các ngành thủy điện, xi măng, vận tải thủy và hàng không.
Chính vì không dé cao danh mục cho vay nên thực hiện tại chỉ nhánh đang có một danh mục cho vay rủi ro cả về ngành nghề, kỳ hạn và mức độ tập trung khách hàng. + Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động ngân hàng còn hạn chế. Toàn bộ thông tỉn liên quan đến khách hàng được quản lý tập trung tại phòng quản trị tín dụng và lưu trữ trên hệ thống SIBS. Hệ thống SIBS do một công ty nước ngoài tạo lập nên việc khai thác thông tin trên SIBS chỉ được ấn định ở một số trường và hình thức nhất định.
Chỉ nhánh chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu thống nhất để áp dụng các phương pháp định lượng hiện đại như: các mô hình toán học.