chương 1 của đề tài này để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình ~ Luận văn “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tai Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ” (2013) của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Tâm. Tác giả của luận văn đã đánh giá được thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tin dung tại Agribank Việt Nam, phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tin dung tại Agribank Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn này viết trên cơ sở. lý thuyết về kiểm soát nội bộ theo tiêu chuẩn của SAS 55.
Theo SAS 55, chỉ có 3 bộ phận trong hệ thống kiểm soát nội bộ là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kế toán. Đây là quan điểm cũ về kiểm soát nội bộ và các luận văn trước đây đều viết theo quan điểm này. Hiện nay, các NH, các công ty của các quốc gia trên thể giới cũng như tại Việt Nam đã sử dụng hệ thống lý thuyết về kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO 1992 để phù hợp với tiêu chuẩn và xu hướng của quốc tế. Ủy ban COSO đã đưa ra các khái niệm vé kidm soát nội bộ trên cơ sở quản trị và quản trị rủi ro.
Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ gồm có 5 bộ phận Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát. Do vậy, luận văn. của tác giả được viết lại theo quan điểm của Ủy ban COSO cho phủ hợp với yêu cầu và xu hướng chung của hiện tại. ~ Luận văn “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tin dung ciia Ngan ‘hang TMCP Bai Dương (2013) của tắc già Lê Thanh Lũy, Đại học Đà Nẵng.
+ Ở phần cơ sở lý luận, tác giả đã phăn ánh khá đẫy đủ các khi niệm cũng như nội dung về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát nội bộ hoạt động tín đụng tại một ngân hàng theo quan điểm của SAS 55. Do vậy, luận văn vẫn chưa đ đến các khái niệm, phân loại rủi ro, nhận dạng các loại rủi ro tín dụng. Trên cơ sở nhận dạng rủi ro tin dụng từ những sai sót trong. công tac tin dụng chúng ta có thể đề xuất các giải pháp chính xác hơn.
+ Ở phần thực trang, luận văn của tác giả Lê Thanh Lay đã lựa chọn phương pháp phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi. Tuy nhiên, bảng câu hỏi của tác giả lại chưa phản ánh được mục dich cụ thể la tác giả, chưa có tính logic với phần thực trạng của bài. Mặc khác, nội dung của bảng câu hỏi quá đài, khoảng 30 trang A4, gây khó khăn cho người được phỏng vẫn. Ngoài ra, các luận văn trên đều chưa đề cập đến việc kiểm tra hồ sơ cấp bảo lãnh, hỗ sơ đang trong quá trình xử lý nợ để xem xét việc tuân thủ các quy trình quy định, cách thứ xử lý nợ như vậy có an toàn cho NH không và dim bảo quyển lợi cao nhất cho NHỊ = BB tải nghiên cứu khoa học công nghệ cấp bộ “Giải pháp hạn chế ải ro tín dụng tại các NHĨM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng "(2007) của tác giả Thẻ.
Nguyễn Ngọc Anh. Trong để tài nghiên cứu này đã viết khá hoàn chính về ý thuyết các phương pháp để nhận dạng và đánh giá rủ ro tín dụng, các giải pháp hoàn thiện công tác nhận dạng rủi ro và đánh giá rủi ro tín dụng. “Tác giả luận văn có sử dụng lại cơ sở của các lý thuyết trên dé vận dụng trong đề tài nghiên cứu. ~ Luận văn “Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dựng của "Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng” (2011) của tác giả Phạm Thị Mỹ Ly.
Trong luận văn này, ở phần cơ sở lý luận tác giả chỉ nêu được một số khái niệm về kiểm soát nội bộ, phân loại kiểm soát nội bộ, các nguyên tắc hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các NHTM. ‘Tuy nhiên các nội dung quan trọng của công tác kiểm soát nội bộ vẫn chưa được nêu trong đề tài. Chẳng hạn, các bộ phận chính của hệ thống kiểm soát nôi bộ bao gồm những bộ phân nào; các nội dung chính của công tác kiếm soát nội bộ của hoạt động tin dụng chưa được nêu trong luận văn CHUONG 1 NHUNG LY LUAN CO BAN VE KIEM SOÁT NỘI BỘ. HOAT DONG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11.
TONG QUAN VE KIEM SOAT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HANG THUONG MẠI 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ. «a Lịch sửphátriễn của hệ thẳng ý luận về hié soát nội ộ nói chung Khái niệm “&iểm soát nội bó” xuất hiện từ những năm cuối của thế ky thứ 19, khi đó NH là kênh cung cắp vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Để có thể cung cấp vốn, NH cần có những thông tin chính xác trên báo cáo tải chính.
“Các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng chí cẳn chọn mẫu các nghiệp vụ kế toán để kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính và dựa vào sự tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến “kiểm soát nội bộ”. Đầu tiên, "kiểm soát nội bộ” được xem như là kiểm soát tiền và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn. Đến năm 1929, Cục dự trữ Liên bang Hoa Ky đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là một công cụ để bảo vệ tiền và ti sản khác, đồng thời thúc đấy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là cơ sở để phục vụ cho việc lầy mẫu của kiểm toán viên.
Năm 1936, Hiệp hội KẾ toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA- American In itue of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trog một tổ chức dé bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiếm tra su chính xác trong ghỉ chép của số sách. Năm 1949, AICPA đã định nghĩa: Kiểm soát nội bộ là:”.cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác va đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động cô hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ: ~ Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP- Commitlee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiếm toán 29 (SAP- Statement on Auditing Procedure) vé “Pham vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán. ~ Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 (1972) “Tim hiểu và đánh giá kiểm soát nội bô” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiếm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghỉ nhận đúng din moi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê, “Năư vậy, từ những năm cuối thể kỷ 19 cho đẫn năm 1972, khái niêm kiểm soát nội bộ đã không ngừng được mở rộng ra khỏi thủ tục bảo vệ tài sản và ghỉ chép số sách kỂ toán.
Trước khi bảo cáo COSO (1992) ra đời, kiếm soát nội bộ chỉ mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính. "Đến thập niên 1970-1980, nền kinh tế của Hoa Kỳ và các nước trên thể giới phát triên mạnh mẽ, đồng thời các vụ gian lận về tài chính và báo cáo tài chính ngày cảng tăng, quy mô càng lớn và gây tấn thất đáng ké cho nền kinh tế. Trước tình hình đó, SEC đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo vẻ kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị minh (1979). _Yêu cầu về báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty cho công chúng là một chủ để gây nhiều tranh luận.
Một trong những quan điểm chống đối là thiếu các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Trước tình hình đó, cần phải có một tổ chức để nghiên cứu vé kiểm soát nội bộ, nhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng phục vụ khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các don vi có thể xây dựng hệ thống kié soát một cách hữu hiệu, và đưa ra những hướng dẫn nhằm giám đi sự khác biệt về quan điểm. Một tổ chức được thành lập để đáp ứng yêu cầu đó là, Uy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, tên viết tắt là Ủy ban COSO hay côn gọi là Ủy bạn Treadway. Uy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của Š tổ chức nghề nghiệp, đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Ky (AICPA), Hiệp hội KẾ toán Hoa Kỳ (AAA- American Accounting Association), Hiệp hội Quản tri viên tải chính (FEI- Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên Quản trị (IMA- Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA- Institute oF Internal Auditors).
“Trước tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ kiểm soát nội bộ thay vì kiếm soát nội bộ về kế toán. Sau đó, AICPA cũng chính thức không sử dụng thuật ngữ kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý. Đến năm 1988, nhiều chuẩn mực kiểm toán ra đời, trong đó 6 SAS 55, SAS 55 đưa ra ba bộ phân của kiếm soát nội bộ là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiếm soát. Dây cũng là cách tiếp cận của một số luận văn thạc sỹ về kiểm soát nội bộ trước đây.
Năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo Khuôn mẫu lý thuyi kiểm soát nội bộ hay còn gọi là báo cáo của COSO 1992, Đây là tà liệu về kiểm soát nội bộ tương đối hoàn chỉnh và được nhiễu nước trên thể giới sử dụng, 5. Những điểm nỗi bậc nhất cña hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ theo Báo cáo của COSO 1992 so với các If luận trước đâp ~ Báo cáo của COSO 1992 là tải liệu đầu tiên trên thể giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đây đủ và có hộ thẳng.