Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý tín dụng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản lý tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á, tỉnh Bình Định. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á, tỉnh Bình Định. e 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. hái niệm, đặc điểm của t n dụng 1. Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế đã tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tín dụng là sự vay mƣợn trong đó hai chủ thể ngƣời đi vay và ngƣời cho vay sẽ thỏa thuận một thời hạn nợ và mức lãi cụ thể; còn nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tín dụng là sự vận động của các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. Từ tín dụng đƣợc sử dụng ngày nay (tiếng Anh: Credit; Pháp: Crédit) xuất phát từ gốc La-tinh Creditum là lòng tin, là sự tín nhiệm.
Ở đây muốn nói về niềm tin mà ngƣời cho vay hƣớng về ngƣời đi vay khi đem tiền bạc, tài sản ra cho vay, h phải có cơ sở tin rằng ngƣời đi vay sẽ hoàn trả nợ đ ng hạn. Nói cách khác, để quan hệ tín dụng tồn tại đòi hỏi phải tạo lập đƣợc niềm tin và đây là cơ sở quan tr ng cho quan hệ tín dụng hình thành. Nhƣ vậy có thể đƣa ra khái niệm tổng quát về tín dụng nhƣ sau: Tín dụng là một quan hệ vay mƣợn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả (cả vốn lẫn lãi) sau một thời hạn nhất định. Tín dụng ngân hàng phản ánh mối quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng và khách hàng trong đó ngân hàng vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay.
Với tƣ cách là ngƣời đi vay, ngân hàng huy động m i nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dƣới nhiều hình thức và dùng số tiền huy động đƣợc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế với tƣ cách là ngƣời cho vay. Theo điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 1997, định nghĩa về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của các NHTM và các tổ chức tín e 9 dụng khác đã viết: Cấp tín dụng đƣợc định nghĩa là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả”. Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, khái niệm cấp tín dụng đã đƣợc làm rõ hơn, bao gồm tất cả các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Mối quan hệ tín dụng ngân hàng không phải là quan hệ chuyển dịch vốn trực tiếp từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi thiếu mà thông qua các trung gian là các ngân hàng.
Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, đƣợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Đặc điểm tín dụng ➢ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi Đây là nguyên tắc quan tr ng hàng đầu vì đại bộ phận nguồn vốn của ngân hàng là nguồn vốn huy động của khách hàng. Nếu các khoản tín dụng không đƣợc hoàn trả đ ng hạn thì nhất định sẽ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của ngân hàng. Để thực hiện nguyên tắc này, mỗi lần cho vay ngân hàng phải định kỳ hạn trả nợ phù hợp và dự kiến các phƣơng án xử lý nếu khách hàng không thực hiện trả nợ đ ng hạn kể cả phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
Nguyên tắc này gi p hạn chế rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. ➢ Vốn vay phải có tài sản tương đương làm đảm bảo Tài sản đảm bảo có thể tồn tại dƣới nhiều dạng: tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay ngân hàng, tài sản đảm bảo là tài sản của ngƣời đi vay, tài sản đảm bảo có thể là tín chấp hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba (GS. Tài sản đảm bảo đƣợc xem là nguồn thu nợ thứ hai, là cơ sở hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng, là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong nhiều trƣờng hợp khác nhau. e 10 ➢ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích (thêm hợp đồng đã ký kết) Tín dụng đ ng mục đích không chỉ là nguyên tắc mà còn là phƣơng châm hoạt động của tín dụng.
Để thực hiện nguyên tắc này ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử dụng tiền vay đ ng mục đích đã ghi trong đơn đề nghị vay, bởi vì mục đích đó đã đƣợc ngân hàng thẩm định và thống nhất trong hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phản ánh nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp, của khách hàng, là cơ sở pháp lý cho các bên tham gia quan hệ tín dụng, trong đó ngân hàng giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay theo đ ng mục đích mà khách hàng cam kết. ai tr của t n dụng ➢ Đối với nền kinh tế Thứ nhất, hoạt động tín dụng góp phần ổn định kinh tế (quá trình sản xuất kinh doanh của các cá thể, cá nhân thƣờng xuyên hơn), tăng cƣờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế: hoạt động sản xuất kinh doanh không phải l c nào cũng suôn sẻ, các tổ chức, cá nhân, luôn phải đƣơng đầu với những khó khăn để tồn tại và phát triển. Một trong những khó khăn mà đa số h gặp phải trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay là sự thiếu hụt vốn trong kinh doanh.
Bên cạnh việc vay mƣợn ở ngƣời thân, bạn bè… thì việc các tổ chức, cá nhân đi vay ở các ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn là rất thƣờng xuyên. Thứ hai, hoạt động tín dụng có vai trò tích tụ và tập trung vốn (góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm tiền mặt trong lƣu thông và khắc phục lạm phát tiền tệ). Mỗi ngƣời, với một khoản tiền nhỏ thì rất khó có thể đầu tƣ, kinh doanh hay mua những vật có giá trị lớn. Tuy nhiên việc tập trung các lƣợng vốn nhỏ này lại rất khó khăn đối với chỉ một ngƣời hay một nhóm ngƣời mà h không đƣợc m i ngƣời trong xã hội biết đến.
Trong khi đó lại có rất nhiều ngƣời cần một lƣợng tiền lớn, nhiều công trình, dự án cần vốn lớn để đầu tƣ… Để kết nối những trƣờng hợp trên lại, ch ng ta phải nhờ đến các tổ chức e 11 tín dụng mà đặc biệt là các ngân hàng. Cũng thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng, số tiền nhàn rỗi trong dân cƣ sẽ giảm xuống vì h có một nơi để đầu tƣ kiếm lời thay vì cất giữ ở nhà, do đó lƣợng tiền mặt trong lƣu thông sẽ giảm, khắc phục lạm phát tiền tệ. Thứ ba, tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc Vai trò này đƣợc thể hiện trên các phƣơng diện: - Nhà nƣớc thƣờng xuyên sử dụng tín dụng làm phƣơng tiện góp phần cân đối thu chi NSNN, góp phần đảm bảo nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế xã hội. - Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các quy chế tín dụng và lãi suất tín dụng, Nhà nƣớc có thể thay đổi đƣợc quy mô tín dụng hoặc chuyển hƣớng vận động của nguồn vốn tín dụng.
Nhờ đó mà có thể th c đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành, phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế của đất nƣớc. - Nhà nƣớc sử dụng tín dụng để điều tiết lƣu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa. Nhƣ vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ để thực thi CSTT quốc gia. - Nhà nƣớc sử dụng tín dụng làm công cụ thực thi các quan hệ hợp tác quốc tế, sử dụng các nguồn lực tài chính bên ngoài để đầu tƣ phát triển kinh tế đất nƣớc.
➢ Đối với ngân hàng Thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng sẽ có nhiều cơ hội để cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, từ đó tạo điều kiện tăng thu dịch vụ và thu h t đƣợc thêm nhiều khách hàng, tạo uy tín của ngân hàng do sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ. Tín dụng đóng vai trò th c đẩy sự phát triển lâu dài của ngân hàng bởi vì nó cho phép ngân hàng có những khách hàng truyền thống. Và do đó, tín e 12 dụng sẽ làm tăng lợi nhuận của các NHTM, tăng thu nhập và ổn định việc làm cho ngƣời lao động trong ngân hàng. ➢ Đối với doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển trong thị trƣờng đầy biến động nhƣ hiện nay, các doanh nghiệp luôn phải không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tƣ thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất.
Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải huy động một lƣợng vốn khá lớn. Lƣợng vốn đó có thể đƣợc huy động từ: cán bộ trong doanh nghiệp, từ thị trƣờng chứng khoán và một phƣơng thức huy động vốn quan tr ng mà các doanh nghiệp hay sử dụng là vay vốn của các NHTM. Với phƣơng thức này, doanh nghiệp sẽ huy động đƣợc vốn với kỳ hạn đa dạng (ngắn/trung/dài hạn tùy thuộc vào phƣơng án kinh doanh của doanh nghiệp), thủ tục đơn giản hơn (so với huy động trên thị trƣờng chứng khoán) và sự kiểm soát trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không gia tăng nhiều (so với huy động từ cán bộ doanh nghiệp hay từ thị trƣờng chứng khoán). Phân loại t n dụng Trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong ph với nhiều hình thức khác nhau.
Để sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả thì phải tiến hành phân loại tín dụng. Mặt khác, để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc cấp tín dụng phải gắn liền với đối tƣợng vay, để tạo điều kiện cho sự vận động của vốn phù hợp với sự vận động của vật tƣ hàng hóa thì phải tiến hành phân loại tín dụng. Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau mà ch ng ta có thể phân chia tín dụng thành các loại khác nhau. Việc phân loại này gi p cho việc nghiên cứu sƣ vân động của vốn tín dụng trong từng loại hình và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của ch ng.
➢ Căn cứ vào thời hạn tín dụng.