CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và quy định khác của pháp luật. Lý thuyết về thẻ thanh toán Thẻ thanh toán: Là loại thẻ được chủ thẻ sử dụng để rút tiền mặt, thanh toán tiền dịch vụ, hàng hóa trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ; Đây là công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho các tổ chức cá nhân để họ sử dụng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay tại các quầy trả tiền tự động.
[14, tr2; 20, tr114] Đặc điểm cơ bản của thẻ thanh toán: Được chế tạo từ chất liệu nhựa cứng ABS hoặc PC, cấu tạo 03 lớp ép kỹ thuật cao, hình chữ nhật với kích thước tiêu chuẩn: 84mm x 54mm x 0. Trên thẻ hiện hữu các yếu tố: Nhãn hiệu thương mại, tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực và ngày hết hạn. Ngoài ra trên thẻ có một số yếu tố khác theo tiêu chuẩn của các tổ chức thẻ quốc tế. Phân loại thẻ thanh toán: Có nhiều cách phân loại thẻ thanh toán, căn cứ vào tính chất thẻ thanh toán, thẻ thanh toán phân ra làm 03 loại: - Thẻ ghi nợ (Thẻ loại A): Là thẻ được phát hành cho khách hàng có quan hệ tín dụng và thanh toán thường xuyên, tín nhiệm với ngân hàng; có ghi hạn mức thanh toán tối đa, chỉ được sử dụng thanh toán trong phạm vi hạn mức của thẻ.
[20, tr114] - Thẻ ký quỹ thanh toán (Thẻ loại B): Là thẻ áp dụng cho khách hàng với điều kiện là khách hàng phải lưu ký tiền vào một tài khoản riêng tại ngân hàng; Luan van 8 khách hàng phải ký quỹ trước tại ngân hàng một số tiền nhưng được hưởng lãi và được sử dụng thẻ có giá trị bằng số tiền đó để thanh toán. [20, tr115] - Thẻ tín dụng (Thẻ loại C): Là thẻ cho những khách hàng có đủ điều kiện được ngân hàng phát hành thẻ, cho vay vốn để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ; sau khi ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng, khách hàng sẽ được cấp cho thẻ tín dụng với một hạn mức tín dụng được ghi vào bộ nhớ của thẻ để thanh toán. Sau khi sử dụng thẻ, khách hàng phải trả nợ gốc và tiền lãi cho ngân hàng phát hành thẻ. Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ Chủ thể trong lĩnh vực phát hành thẻ - Ngân hàng phát hành, tổ chức phát hành thẻ: Là các ngân hàng, tổ chức Ngân hàng trung ương, cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cho phép thực hiện phát hành thẻ, cấp thẻ cho các chủ thẻ là cá nhân sử dụng, chịu trách nhiệm thanh toán và cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ đó.
- Ngân hàng đại lý phát hành, tổ chức đại lý phát hành: Trên cơ sở hợp đồng đại lý phát hành, một ngân hàng hoặc một tổ chức có thể thay mặt ngân hàng phát hành thẻ cho chủ thẻ với tên ngân hàng phát hành. - Người bão lãnh phát hành: Người đứng ra dùng tài sản của mình đảm bảo với ngân hàng, tổ chức phát hành về việc sẽ thực hiện thay nghĩa vụ của chủ thẻ trong trường hợp chủ thẻ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình. Chủ thể trong lĩnh vực sử dụng thẻ: Là các chủ thẻ được ngân hàng phát hành thẻ cấp thẻ để sử dụng, gồm có chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính là người đứng tên đề nghị phát hành thẻ, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, xử lý, thanh toán các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thẻ của mình, kể cả thẻ phụ phát hành kèm theo thẻ chính.
Chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính. Chủ thể trong lĩnh vực thanh toán thẻ: - Đơn vị chấp nhận thẻ: Tổ chức hoặc cá nhân chấp nhận thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ theo hợp đồng ký kết với ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng thanh toán thẻ. Luan van 9 - Ngân hàng thanh toán thẻ: Là ngân hàng được ngân hàng phát hành thẻ ủy quyền thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo hợp đồng; hoặc là thành viên chính thức, hay là thành viên liên kết của một tổ chức thẻ quốc tế; đồng thời cũng có thể là ngân hàng phát hành thẻ. - Máy rút tiền tự động (ATM): Là điểm giao dịch của ngân hàng phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ; được kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp về ngân hàng phát hành thẻ, tại đó chủ thẻ được trực tiếp giao dịch với tài khoản của mình tại ngân hàng để đáp ứng các nhu cầu của mình thông qua mã số cá nhân (PIN) trên cơ sở các dịch vụ mà máy ATM cung ứng.
- Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT): Là một tổ chức gồm một hoặc một số ngân hàng, định chế tài chính hoặc tổ chức phi tài chính gắn với một thương hiệu độc quyền sản phẩm thẻ (như Visa International, MasterCard International, American Express, Diner Club, JCB,…). Trên cơ sở thương hiệu đó, có thể ủy quyền cho các ngân hàng, tổ chức khác phát hành thẻ dưới thương hiệu của mình. Lợi ích của thẻ thanh toán Đối với ngân hàng: - Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Tham gia thanh toán thẻ, có thể đa dạng hóa các dịch vụ của mình, thu hút được khách hàng mới làm quen với dịch vụ thẻ và các dịch vụ khác do ngân hàng cung cấp; hoạt động phát hành, thanh toán thẻ ngân hàng có thể thu hút một nguồn vốn lớn để bổ sung vào nguồn vốn ngắn hạn từ hoạt động thu phí và lãi do việc phát hành thẻ; qua đó uy tín của ngân hàng được nâng lên nhờ việc cung ứng đầy đủ dịch vụ. - Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng mình, sử dụng các sản phẩm do ngân hàng cung cấp, làm tăng doanh thu, lợi nhuận thông qua hoạt động thu phí chiết khấu đại lý từ hoạt động thanh toán qua đại lý.
Điều đó làm tăng uy tín của ngân hàng. Đối với người sử dụng thẻ: Được hưởng nhiều tiện ích quan trọng; - Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán an toàn và tiện dụng: Công nghệ sản xuất thẻ đạt trình độ cao, có biện pháp chống giả mạo như mã hóa thông số từ Luan van 10 tính, kỹ thuật mạch điện từ, do vậy thẻ thanh toán là phương tiện giao dịch khá an toàn. Nếu bị mất cắp hay thất lạc thẻ, chủ thẻ báo với ngân hàng ngay tức thì thẻ sẽ được ngân hàng khóa lại, chủ thẻ hoàn toàn yên tâm vì thông tin chủ thẻ và toàn bộ số tiền trong thẻ vẫn còn nguyên vẹn; thẻ thanh toán tiện dụng giúp người sử dụng không phải cầm tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán mà chỉ cần một tấm thẻ gọn, nhẹ thuận lợi trong thanh toán, tránh rủi ro khi cầm tiền mặt; có khả năng chi tiêu đa ngoại tệ, không lệ thuộc một loại ngoại tệ nào. - Hỗ trợ tín dụng một cách dễ dàng khi cần: Trong các loại thẻ thanh toán, thẻ tín dụng là một dạng cho vay thanh toán; có thể sử dụng tiền ứng trước để phục vụ nhu cầu thanh toán và hoàn trả sau khoảng thời gian quy định mà không bị tính lãi.
Ngoài ra, thấu chi qua thẻ cũng là hình thức hỗ trợ tín dụng phổ biến của các ngân hàng. - Rút tiền mặt và thanh toán điện tử: Chủ thẻ có thể rút tiền mặt nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào tại ngân hàng, các máy rút tiền tự động (ATM), máy chấp nhận thẻ (POS); sự phát triển của Intenet, thẻ thanh toán giúp người sử dụng bán và mua hàng trực tuyến không cần giao dịch tại cửa hàng, chỉ cần khai thông tin, click chuột là có thể xem và đặt lệnh mua hàng hóa khắp nơi trên thế giới. - Tối đa hóa lợi ích kinh tế với chi phí hợp lý: Thẻ ngân hàng gián tiếp mang lợi ích kinh tế không nhỏ như tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại giao dịch, hưởng lãi trên số dư trong tài khoản, không bị tính lãi khi chi tiêu trước trả sau; ngoài ra, người sử dụng còn được hưởng các ưu đãi nhất định về dịch vụ giá trị gia tăng khác khi thanh toán bằngthẻ tín dụng nội địa tại các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ là thành viên liên kết phát hành thẻ với ngân hàng. - Kiểm soát chi tiêu: Chủ thẻ có thể truy vấn thông tin, xem sao kê giao dịch, số dư,kiểm tra mức độ chi tiêu, quản lý số tiền trong tài khoản thẻ; khi sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng gửi đến chủ thẻ sao kê hàng tháng, qua đó chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được chi tiêu của mình, tính toán được phí, lãi trả cho mỗi khoản giao dịch.
Luan van 11 Đối với đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): - Tăng doanh số bán hàng do thu hút được nhiều khách hàng (Đa phần là các khách hàng có mức chi tiêu cao): Phương thức thanh toán hiện đại, chuyên nghiệp, tiện lợi nhanh chóng tại các cơ sở kinh doanh sẽ thu hút lượng lớn khách hàng; các khách hàng thanh toán bằng thẻ, nhất là thẻ tín dụng quốc tế thường là những người có mức thu nhập cao và có mức chi tiêu cao sẽ đem lại doanh số cho đơn vị. - Tiết kiệm chi phí, dễ quản lý: Đơn vị chấp nhận thẻ có thể giảm các khoản chi, phí về tiền mặt như: kiểm đếm, bảo quản, nộp vào tài khoản ngân hàng…; chỉ với một số thao tác đơn giản, đơn vị đã thu được tiền, không phải trả lại tiền thừa và nạp luôn vào tài khoản ngân hàng; tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí nhân công. - An toàn: Tránh được rủi ro tiền giả và nguy cơ trộm, cướp tiền mặt hay séc tại đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ. - Tăng vòng quay vốn: Khi dữ liệu về giao dịch thanh toán được truyền tới NHTM, lập tức giá trị giao dịch đó sẽ được ghi Có ngay vào Tài khoản tiền gửi của đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ.