CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA CÁC NHTM 1. Khái niệm CVTD Trong các nghiệp vụ của NHTM, có thể nói rằng loại hình cho vay đối với người tiêu dùng được xem là một trong những hình thức tài trợ chính cho sự tiêu dùng của KH cá nhân, và được đánh giá là một trong những xu hướng đang tăng lên trong gần hơn hai thập kỷ qua. Chính vì vậy, CVTD không chỉ là một phương thức giải quyết các nhu cầu cấp bách, mà còn là phương tiện nhằm cải thiện mức sống của KH, khi cá nhân họ chưa có đủ khả năng chi trả cho các nhu cầu tiêu dùng phát sinh như mua nhà, mua xe ô tô hoặc sửa chữa nhà, cải tạo nhà ở, hay du học … Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính thống nào về hình thức CVTD tuy nhiên lại có khá nhiều khái niệm đề cập đến CVTD và cơ bản giữa các khái niệm này đều có một sự thống nhất.
Đơn cử như các NHTM đều hiểu rằng “CVTD là một hình thức qua đó NH chuyển cho KH (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền hay hiện vật) với những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức sống cao hơn” [8, 249]. Hay theo giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, nhà xuất bản Lao động xã hội, năm 2010 của tác giả Tiến sỹ Nguyễn Minh Kiều lại cho rằng: “CVTD là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. KH vay là những người có thu nhập không phải cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương và có việc làm ổn định và số lượng KH thì rất đông”. Luan van 9 Hoặc theo sách Nghiệp vụ tín dụng NH, nhà xuất bản Phương Đông, năm 2009 của tác giả TS.
Lê Thị Hiệp Thương thì “CVTD là các khoản vốn NH tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người dân trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ … Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch … cũng có thể được tài trợ bởi CVTD.” Tóm lại, CVTD được xem là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh nên có thể kết luận như sau: CVTD được hiểu là việc NH chuyển giao cho KH một lượng giá trị bằng tiền trên nguyên tắc KH sẽ hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định đã thỏa thuận để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống. Đặc điểm của CVTD Ngày nay cùng với sự phát triển của hệ thống NH, hoạt động NH ngày càng tiến gần đến với đời sống của từng hộ gia đình. Vì lẻ đó sản phẩm CVTD cũng được các NH cung cấp ngày càng đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu về tiêu dùng của KH cá nhân, giúp KH thỏa mãn được kỳ vọng của mình.
CVTD là một sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm cho vay của NH, chính vì vậy bản thân sản phẩm này đã mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động cho vay. Bên cạnh những đặc điểm chung này thì CVTD còn có những đặc điểm mang đậm nét riêng: KH vay là cá nhân hoặc các hộ gia đình. KH vay với mục đích phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của bản thân. Sống trong một xã hội tiến bộ và nền khoa học công nghệ - kĩ thuật tiên tiến như hiện nay cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều sản phẩm mẫu mã đẹp và chất lượng cao, tự khắc nhu cầu của con người sẽ càng gia tăng hơn.
Tất yếu quá trình trao đổi mua bán đòi hỏi diễn ra càng mạnh mẽ. Song, để Luan van 10 tham gia được vào quá trình mua bán hàng hóa thì cần phải có một lượng giá trị (tiền tệ) đủ lớn và đúng thời điểm. Chính vì tương quan đối ứng dùng tiền để mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ đã gây trở ngại cho những đối tượng KH có nhu cầu tiêu dùng nhưng lượng tài chính của họ không tương xứng. Do đó, CVTD đã giúp đối tượng KH này có thể thỏa mãn được mục đích tiêu dùng cá nhân của bản thân.
Quy mô của từng hợp đồng CVTD thường nhỏ, nhưng số lượng các hợp đồng lớn. Thói quen tiêu dùng của đại bộ phân dân cư thường là sử dụng từ nguồn tiền tích lũy, tiết kiệm, đặc biệt là người Việt Nam. Chính vì vậy, KH chỉ tìm đến sự tài trợ về tài chính từ NH trong những giao dịch mua sắm tiêu dùng khi nguồn tài chính của KH có sự thiếu hụt tức thời. Bởi lẻ đó mà CVTD thường có quy mô nhỏ hơn so với loại cho vay sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, chính sự không khớp nhau giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra của quỹ tiền tệ cá nhân, hộ gia đình tại thời điểm phát sinh nhu cầu nên KH thường có nhu cầu vay tiêu dùng NH để thỏa mãn nhu cầu. Như vậy, có thể kết luận số lượng những KH có nhu cầu vay tiêu dùng tương đối lớn. Khoản cho vay tiêu dùng thường có chi phí cao Đa phần các món CVTD có quy mô nhỏ, giá trị hợp đồng vay không cao nhưng một khi tiếp nhận một hồ sơ vay thì NH phải thực hiện đầy đủ các bước trong một quy trình tín dụng bao gồm các bước lập hồ sơ, phân tích tín dụng, ra quyết định tín dụng,… song ở từng bước không thể tránh khỏi những khoản chi phí phát sinh gây tốn kém cho NH cũng như KH. Điển hình như khi KH đến vay tiêu dùng với thời gian vay không dài dẫn đến khả năng NH nắm bắt thông tin của KH để đưa ra bước quyết định cho vay đúng là rất khó.
Hơn bao giờ hết, thông tin cá nhân là một trong những loại thông tin mang tính chất riêng tư nên dẫn tới việc NH muốn có được nguồn thông tin này thì phải thu Luan van 11 thập một cách gián tiếp và trạng thái thu thập thông tin này có kèm theo chi phí. Hay trong các trường hợp khi NH tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát và thu nợ luôn phát sinh các khoản chi phí gây tốn kém cho NH. Lãi suất CVTD cao hơn lãi suất cho vay sản xuất kinh doanh. CVTD thường có chi phí tổ chức cho vay cao hơn so với cho vay sản xuất kinh doanh, dẫn đến yếu tố lãi suất CVTD thường cao hơn để bù đắp phần nào cho khoản chi phí này.
Ngoài ra, đối tượng CVTD tập trung chủ yếu là các KH cá nhân, hộ gia đình nên nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập (tiền lương) hàng tháng của cá nhân, hộ gia đình. Trong khi đó, đôi khi nguồn trả nợ bị ảnh hưởng ít nhiều bởi những biến động lớn liên quan đến quá trình làm việc, kỹ năng, kinh nghiệm trong công việc của KH. Do đó loại CVTD có độ rủi ro khá cao hay cao nhất trong danh mục cho vay của NH. Mà rủi ro bao giờ cũng tương quan thuận với lợi nhuận đặt ra, cho nên CVTD có rủi ro cao thì lãi suất cho vay nhất thiết phải cao.
Nhu cầu vay tiêu dùng của KH thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững, đời sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu CVTD lại càng cao. Ngược lại, khi nền kinh tế có chiều hướng suy thoái người dân có xu hướng giảm chi tiêu, không kỳ vọng nhiều vào nền kinh tế, không có nhu cầu mong muốn vay vốn NH phục vụ cho tiêu dùng, làm cho hoạt động CVTD gặp khó khăn hơn. Nhu cầu vay tiêu dùng của KH hầu như ít co dãn với lãi suất.
CVTD là loại hình cho vay mà lãi suất khá cao và cố định. Hơn nữa, KH vay tiêu dùng thường chọn phương thức hoàn trả cố định hay còn gọi là vay trả góp, nên đôi khi KH không quan tâm nhiều đến yếu tố lãi suất phải trả, mà họ chỉ đặc biệt chú ý đến số tiền phải thanh toán theo định kỳ cho NH là bao nhiêu. Sau đó bản thân KH sẽ làm một phép cân đo khả năng thu nhập của bản thân với nợ phải trả định kỳ cho NH như thế nào để đưa ra quyết định đi vay Luan van 12 hay không. Chính vì vậy mà nhu cầu vay tiêu dùng của KH hầu như ít co dãn hay kém nhạy cảm với lãi suất.
Nhu cầu vay tiêu dùng của KH phụ thuộc chặt chẽ vào mức thu nhập và trình độ học vấn. Đối tượng CVTD thường là những người có thu nhập khá và tương đối ổn định, nên thường có khả năng trả được nợ. Nguồn thu nhập của cá nhân, hộ gia đình chủ yếu từ tiền lương, nguồn thu nhập từ việc đóng góp sức lao động của bản thân. Trong điều kiện hiện nay, Nhà nước luôn kêu gọi người dân tham gia lao động, hưởng theo lao động, do đó để có một nguồn thu nhập ổn định và cao thì bản thân từng cá nhân phải có một vị trí việc làm tốt.
Muốn vậy thì cá nhân đó phải có một trình độ học vấn nhất định, đặc biệt cá nhân nào trình độ học vấn càng cao khả năng có vị trí việc làm tốt càng nhiều. Tư cách của KH là yếu tố khó xác định, song lại rất quan trọng vì phần nào quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên việc chứng minh tài chính thường là một trở ngại. Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi tiêu của mình thì các KH cá nhân vay tiêu dùng muốn chứng minh tài chính của mình thường phải dựa vào thu nhập hay tiền lương, nên đôi khi dẫn đến việc CBNH suy đoán chứ không có bằng chứng rõ ràng.
Nên nguy cơ rủi ro không thu hồi được nợ từ khoản CVTD rất có khả năng xảy ra. Có thể tạm kết luận, CVTD luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho NH. Chất lượng các thông tin tài chính của KH vay thường không cao.