Chương 1 đã giới thiệu tổng quát đề tài nghiên cứu. Sau khi phân tích về sự cần thiết của nghiên cứu, tác giả đã nêu ra các mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương nghiên cứu, sau cùng là nêu lên bố cục của luận văn bao gồm 05 chương. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước (1) Nghiên cứu của Christine Brown và Kevin Davis (2008) về sự tác động của việc quản lý vốn đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Australia trong 13 năm từ năm 1991 đến năm 2004. Kết quả nghiên cứu của Christine Brown và Kevin Davis cho rằng: Tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lời trên tài sản và quản lý vốn hiệu quả có tác động cùng chiều với kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (2) Nghiên cứu của Sehrish Gul và các cộng sự (2011) với dữ liệu mẫu là 15 NHTM hàng đầu ở Pakistan trong giai đoạn 2005-2009 để phân tích sự tác động của các yếu tố bên trong ngân hàng bao gồm các chỉ số: Tổng tài sản; Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; Tổng cho vay trên tổng tài sản; Tổng tiền gửi trên tổng tài sản, và các yếu tố bên ngoài ngân hàng bao gồm: Tổng thu nhập quốc nội; Lạm phát và vốn hóa thị trường có tác động hay không đến lợi nhuận của ngân hàng thông qua các chỉ số: Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); Lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE); tỷ lệ lợi nhuận biên (NIM) và Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Kết quả nghiên cứu cho rằng 05 chỉ số có tác động đến các chỉ số lợi nhuận của ngân hàng đó là : Tổng tài sản; Tổng cho vay trên tổng tài sản; Tổng tiền gửi trên tổng tài sản; Tổng thu nhập quốc nội; Lạm phát và 02 chỉ số còn lại không có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng đó là: Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; Vốn hóa thị trường. (3) Nghiên cứu của Parvesh Kumar Aspan (2014), tác giả đã sử dụng 18 chỉ số trong mô hình CAMELS để đánh giá và xếp hạng năng lực tài chính của ngân hàng ở Ấn Độ. Mẫu nghiên cứu là 13 ngân hàng khu vực tư nhân Ấn Độ, dữ liệu nghiên cứu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên của Ngân hàng Trung ương Ấn Độ trong giai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đoạn 05 năm từ năm 2008-2012. Dựa vào các chỉ số đã tính toán, tác giả tiến hành xếp hạng năng lực tài chính của 13 ngân hàng, từ đó phân thành 5 nhóm ngân hàng có năng lực tài chính từ yếu đến mạnh.
(4) Nghiên cứu của Ali Shingjergji và Marsida Hyseni (2015), tác giả sử dụng dữ liệu hàng quý, từ quý 1 năm 2007 cho quý 4 năm 2014 với tổng cộng 31 quan sát. Nghiên cứu phân tích biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn (CAR) có mối quan hệ như thế nào với các biến độc lập là lợi nhuận trên tài sản (ROA); Lợi nhuận trên VCSH (ROE), Tỷ lệ nợ xấu (NPL); Quy mô của ngân hàng (Tổng tài sản); Hệ số vốn chủ sở hữu (EM) và tỷ lệ cho vay với tiền gửi (LTD). Từ kết quả thấy rằng chỉ số lợi nhuận như ROA và ROE không có bất kỳ ảnh hưởng trên CAR trong khi nợ xấu, LTD và EM có tác động tiêu cực và đáng kể đối với CAR trong hệ thống ngân hàng Albania. Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hệ số CAR, quy mô ngân hàng lớn thì sẽ có hệ số CAR cao hơn.
(5) Nghiên cứu của Tesfatsion Sahlu Desta (2016), tác giả đã thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính của 30 ngân hàng tốt nhất ở Châu Phi trong giai đoạn năm 2012-2014. Dựa vào khung an toàn CAMEL, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá và chấm điểm năng lực tài chính của 30 ngân hàng. Qua nghiên cứu cho thấy hầu hết các ngân hàng đều đạt chuẩn khi xét về tiêu chí hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, không đạt chuẩn khi xét về tiêu chí: Khả năng đảm bảo thanh khoản; chất lượng về tài sản và chất lượng về quản lý.2 Tình hình nghiên cứu trong nước (1) Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008). Tác giả kết hợp phương pháp phân tích định tính và định lượng với mô hình tobit để xác định các yếu tố có tác động đến kết quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2005.
Tiêu chí đánh giá phân tích dựa theo mô hình CAMEL, tuy nhiên nghiên cứu chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực tài chính của các NHTM TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Việt Nam. (2) Nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga (2013), tác giả đã vận dụng lý thuyết khung an toàn CAMEL kết hợp phân tích định lượng để đánh giá NLTC của 28 NHTM Việt Nam trong thời gian từ năm 2003-2012. Nghiên cứu chỉ ra rằng có 13 nhân tố tác động đến NLTC của các NHTM Việt Nam, đó là: Quy mô VCSH; Hệ số an toàn vốn tối thiểu; Đòn bẩy tài chính; Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; Dư nợ cho vay trên tổng tài sản; ROE; ROA; Hệ số chi phí hoạt động; NIM; Dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi; Tỷ lệ thanh khoản. (3) Nghiên cứu của Lã Thị Lâm (2016), tác giả nghiên cứu dữ liệu của 21 NHTM cổ phần Việt Nam trong giai đoạn từ 2009 đến 2014.
Với mẫu nghiên cứu 21 ngân hàng , tác giả đã chia thành 3 nhóm ngân hàng theo quy mô tài sản và quy mô VCSH, từ đó tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NLTC ngân hàng dựa theo các nhóm tiêu chí khung an toàn CAMEL. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ sử dụng phương pháp phân tích định tính. Qua phần tổng kết các nghiên cứu trong nước và nước ngoài, tác giả đã kế thừa được những lý luận cơ bản NLTC và chỉ tiêu đánh giá N LT C c ủ a c á c NHTM, có căn cứ chọn lựa các biến, lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NLTC của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 - 2016.2 Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm năng lực tài chính của ngân hàng thương mại “ Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế ” (Nguyễn Văn Tiến, 2008) Theo Lã Thị Lâm (2016) “ Năng lực tài chính của NHTM là khả năng tạo lập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nguồn vốn và sử dụng vốn để đáp ứng tối đa nhu cầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra của NHTM ”.
Ngân hàng thương mại bản chất là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh liên quan đến lĩnh vực tiền tệ, nghiệp vụ chủ yếu là huy động và cho vay, là cầu nối trung gian trong việc phân phối nguồn vốn trong nền kinh tế, do đó năng lực tài chính NHTM có thể hiểu là khả năng tạo lập nguồn vốn và khả năng sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Năng lực tài chính của NHTM là một tiêu chính rất quan trọng khi đánh giá xếp hạng ngân hàng, nếu như một ngân hàng có năng lực tài chính tốt sẽ hoạt động kinh doanh một cách bền vững và có sức cạnh tranh trên thị trường.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính ngân hàng thương mại Dựa trên các chỉ số đánh giá NLTC theo khung an toàn CAMEL. Các tiêu chí đánh giá NLTC của NHTM bao gồm: 2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu Vốn của NHTM : Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có ( Nguyễn Văn Tiến, 2008).
Quy mô VCSH càng lớn thì khả năng tài chính ngân hàng càng tốt. Chỉ số tiếp theo dùng để đánh giá năng lực tài chính của NHTM đó là hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR), là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng, thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống. Theo BASEL II và thông tư 13/2010/TTNHNN, hệ số an toàn vốn được xác định như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Tỷ lệ vốn Tổng vốn (vốn cấp1 và vốn cấp 2) = tối thiểu CAR RWA rủi ro tín dụng + (K rủi ro hoạt động * 12,5) + (K rủi ro thị trường * 12,5) Trong đó: Vốn cấp 1 là VCSH chỉ bao gồm: Vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, lợi nhuận giữ lại, thu nhập của các công ty trực thuộc. Vốn cấp 2 là vốn tự có bổ sung tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh hay là để đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh.
RWA rủi ro tín dụng = Tài sản x Hệ số rủi ro K: Vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng loại rủi ro 2.2 Nhóm tiêu chí về quy mô và chất lượng tài sản Tài sản Có (Asset) là các tài sản được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng và các khoản nợ phải trả (tài sản Nợ). Tài sản Có phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích đảm bảo an toàn và tìm kiếm lợi nhuận. Một NHTM được đánh giá có năng lực tài chính tốt nếu có tốc độ tăng trưởng tài sản Có ổn định, chất lượng tài sản cao. Các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá quy mô và chất lượng tài sản Có : Quy mô và tốc độ tăng trưởng tài sản Có Một NHTM có quy mô tổng tài sản lớn và tốc độ tăng trưởng tài sản ổn định, phù hợp với yêu cầu đảm bảo an toàn của ngân hàng được coi là yếu tố tích cực với năng lực tài chính của NHTM.
Tổng dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng dư nợ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.