CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tiêu chuẩn định tính Nhiều học giả cho rằng có thể xác định được DNVVN thông qua đánh giá quá trình hoạt động của doanh nghiệp đó.
Stokes và Wilson cho rằng DNVVN là doanh nghiệp có các hoạt động và cấu trúc đơn giản, mức độ phức tạp của quản lý không cao cũng như đầu mối quản lý ít (Stokes và Wilson 2010). Loecher cho rằng DNVVN là doanh nghiệp có phương thức hoạt động theo “nguyên tắc cá nhân” và “nguyên tắc thông nhất giữa lãnh đạo và chủ sở hữu”, tức các DNVVN thường có chủ sở hữu và người lãnh đạo đều là một người và người đó có vai trò chủ chốt trong việc đưa ra mọi quyết định của doanh nghiệp (Loecher 2000). Cũng theo quan điểm này, báo cáo của Bolton đưa ra ba đặc điểm để xác định DNVVN là: (1) doanh nghiệp được quản lý bởi chính chủ sở hữu và theo nguyên tắc cá nhân hóa, (2) thị phần doanh nghiệp tương đối nhỏ trên thị trường, (3) doanh nghiệp có tính độc lập theo nghĩa nó không phải là công ty con của một doanh nghiệp lớn nào đó và cũng không có sự kiểm soát từ bên ngoài, độc lập trong các quyết định của doanh nghiệp (Bolton 1971). Decker cũng dựa trên các khía cạnh định tính khác như hình thức pháp lý, vai trò của chủ sở hữu, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường để xác định các DNVVN (Decker 2006).
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tiêu chuẩn định lượng Do các quốc gia khác nhau có đặc điểm kinh tế - xã hội, trình độ phát triển khác nhau nên khái niệm về DNVVN ở các quốc gia cũng khác nhau. Hơn thế nữa, trong cùng một quốc gia, tiêu chí để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng thay đổi từng thời kỳ, từng loại hình doanh nghiệp. Dưới đây là định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở một số quốc gia trên thế giới: 7 Bảng 1.1: Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới Tiêu chí áp dụng Quốc gia Tổng vốn hoặc giá Số lao động Doanh thu trị tài sản 1. Mỹ < 500 hoặc Không quan Không quan Trong tất cả các ngành <1000 trọng trọng 2.
Nhật bản - Bán lẻ < 50 < 10 triệu Yên Không quan - Bán buôn < 100 < 100 triệu Yên trọng - Dịch vụ < 100 < 50 triệu Yên - Các ngành sản xuất < 300 < 300 triệu Yên 3. Các nước EU < 250 < 27 triệu EUR < 40 triệu EUR 4. Úc - Công nghiệp và dịch vụ < 500 Không quan Không quan - Các ngành khác < 300 trọng trọng 5. Canada < 500 Không quan < 20 triệu Đô- Ngành sản xuất và dịch vụ trọng la Canada 6.
Đài Loan - Các ngành chế tạo, xây < 200 < 2,3 triệu USD Không quan dựng và khai mỏ trọng - Các ngành khác < 50 Không quan < 2,9 triệu trọng USD 7. Hàn Quốc - Công nghiệp xây dựng < 300 < 0,6 triệu USD < 1,4 triệu USD - Thương mại dịch vụ < 50 < 0,25 triệu USD 8. Malaysia Sản xuất công nghiệp < 150 < 25 triệu Ringit 9.000 USD quan trọng 10. Philippines 10 – 199 1,5 – 60 triệu Không quan Peso trọng 11.
Thái Lan - Sản xuất < 200 triệu Baht - Bán buôn < 100 triệu Baht - Bán lẻ < 60 triệu Baht 12. Brunei (Các ngành) 1 – 100 Không quan Không quan Đô-la trọng trọng Singapore (Nguồn: Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại địa chỉ: http://tailieu.php/tin-tuc/tin-tuc-ho-tro- boi-duong/item/1506-khai-ni-m-doanh-nghi-p-nh-va-v-a#ftnref1, truy cập ngày 25/02/2019) 8 Tại Việt Nam, do các quy định, chính sách của nhà nước về DNVVN có sự thay đổi theo từng thời kỳ nên khái niệm về DNVVN tại Việt Nam ở các thời kỳ khác cũng được quy định khác nhau. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, Khái niệm DNNVV được quy định theo từng loại hình kinh doanh và bắt đầu có sự phân tách làm 03 loại hình doanh nghiệp là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa theo quy mô; cụ thể như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao động Tổng Số lao Tổng Số lao động nguồn động nguồn vốn vốn I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy xuống trở xuống người đến đồng đến người đến sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/06/2009) Gần đây nhất, theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/03/2018, tiêu chí để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ được quy định như sau: 9 Bảng 1.3: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam theo nghị định số 39/2018/NĐ-CP của chính phủ Loại hình Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ Số lao Doanh thu Số lao Doanh thu Số lao Doanh thu động hoặc động hoặc nguồn động hoặc nguồn Lĩnh vực nguồn vốn vốn vốn Nông ≤ 10 ≤ 3 tỷ ≤ 100 Doanh thu ≤ 200 Doanh thu nghiệp, người đồng người ≤ 50 tỷ người ≤ 200 tỷ lâm (tham gia (tham gia đồng hoặc (tham gia đồng hoặc nghiệp, BHXH) BHXH) nguồn vốn BHXH) nguồn vốn thủy sản ≤ 20 tỷ ≤ 100 tỷ và công đồng đồng nghiệp Thương ≤ 10 Doanh thu ≤ 50 Doanh thu ≤ 100 Doanh thu mại người ≤ 10 tỷ người ≤ 100 tỷ người ≤ 300 tỷ (tham gia đồng hoặc (tham gia đồng hoặc (tham gia đồng hoặc BHXH) nguồn vốn BHXH) nguồn vốn BHXH) nguồn vốn ≤ 3 tỷ ≤ 50 tỷ ≤ 100 tỷ đồng đồng đồng (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/03/2018) Như vậy, tùy từng thời điểm và quy định của mỗi quốc gia mà DNVVN được định nghĩa theo các cách khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, DNVVN có thể định nghĩa một cách khái quát nhất như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các tổ chức kinh tế, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và có quy mô doanh nghiệp thỏa mãn các tiêu chí phân loại của từng quốc gia theo từng giai đoạn nhất định” 1. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhìn chung, các DNVVN đều có các đặc điểm cơ bản như sau: Nguồn vốn kinh doanh nhỏ, quy mô lao động hạn chế, cơ sở vật chất và trình độ quản lý còn lạc hậu.
10 Do lĩnh vực hoạt động kinh doanh thường hướng tới phục vụ trực tiếp nhu cầu đời sống xã hội, sản phẩm có tính thiết thực cao, tốc độ quay vòng nhanh nên DNVVN không cần có nguồn vốn lớn cũng như không phải sử dụng nhiều lao động, tạo điều kiện cho việc tối đa hóa hiệu suất sử dụng vốn. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc DNVVN cũng không đủ nguồn lực kinh tế để đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hóa các trang thiết bị, khó thu hút được các nguồn nhân lực chất lượng cao về làm việc, ít cơ hội tiếp cận với trình độ quản lý chuyên nghiệp. Hình thức sở hữu đơn giản, thường mang tính chất gia đình, bộ máy quản lý nhỏ gọn, có tính linh hoạt cao. Do hoạt động với quy mô nhỏ, không cần nguồn vốn lớn nên việc thành lập DNVVN khá đơn giản.
DNVVN tại Việt Nam thường là các doanh nghiệp tư nhân có tính chất gia đình. Bộ máy quản lý của DNVVN được tinh giản đến mức tối đa nhằm tiết kiệm chi phí hoạt động đồng thời giúp doanh nghiệp có thể nhanh chóng đưa ra được các quyết định, chính sách để đáp ứng kịp thời với các nhu cầu thị trường. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của DNVVN là thương mại và dịch vụ. Với nguồn vốn kinh doanh nhỏ, năng lực quản lý hạn chế, DNVVN phù hợp với các lĩnh vực không cần đầu tư lớn vào cơ sở vật chất, công nghệ.
Vì vậy, đa số các DNVVN lựa chọn lĩnh vực thương mại và dịch vụ làm lĩnh vực kinh doanh chính. Khả năng huy động vốn hạn chế. So với các Doanh nghiệp lớn thì DNVVN có uy tín không cao, khả năng chịu đựng những biến động tiêu cực của thị trường còn hạn chế, vị thế đàm phán với các nhà cung cấp cũng không cao nên khả năng huy động vốn của các DNVVN dưới các thức như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, phát hành trái phiếu, huy động vốn từ các quỹ đầu tư. đều tương đối hạn chế.
Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước có trình độ phát triển cao. Vai trò của các DNVVN được thể hiện qua những điểm sau: 11 Thứ nhất, DNVVN góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội. Vai trò của các DNVVN không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà nó còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động. Theo số liệu của Viện Chiến lược ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước, có tới 60% việc làm mới được tạo ra từ khu vực này, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước.
Thứ hai, DNVVN cung cấp một khối lượng lớn về sản phẩm. DNVVN có quy mô nhỏ nhưng có số lượng rất lớn trong nền kinh tế, là loại hình doanh nghiệp chiếm 90% tổng doanh nghiệp trong nền kinh tế. Chính vì vậy, các doanh nghiệp này có thể hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau và hoạt động ở nhiều khu vực địa bàn khác nhau, từ thành thị đến nông thôn, miền núi. Theo số liệu của Viện Chiến lược ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước, cả nước có hơn 500.000 DNVVN, chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, 44,8% doanh thu, 40% GDP, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu, đóng góp 29,3% cho ngân sách nhà nước.