Chương 1: Tổng quan về khả năng sinh lời của NHTM. - Chương 2: Phân tích các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam. - Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao khả năng sinh lời của NHTMCP Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khả năng sinh lời của ngân hàng thƣơng mại Ngân hàng thương mại được định nghĩa trong Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010 là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo theo luật nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và được nhiều người ví như là huyết mạch của nền kinh tế của một quốc gia. Theo quan điểm truyền thống thì ngân hàng thương mại có những vai trò căn bản sau: Một là, vai trò tập trung vốn của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò này các ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các công cụ như sản phẩm tiền gửi, trái phiếu, cổ phiếu,…Mặt khác, với số vốn nhàn rỗi này, ngân hàng sẽ cung ứng ra cho các nhu cầu của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng,…Như vậy, với vai trò này ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay với một mức lãi suất chênh lệch để duy trì hoạt động và thu lợi cho mình. Hai là, ngân hàng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
Với vai trò là trung gian thanh toán, ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả theo lệnh của chủ tài khoản. Ngân hàng tạo ra các công cụ thanh toán như sec, giấy chuyển khoản, thẻ thanh toán,… và độc quyền quản lý các công cụ đó. Ba là, chức năng tạo ra tiền ngân hàng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Chính nhờ vai trò này, ngân hàng thương mại còn là công cụ để ngân hàng Nhà Nước thực hiện các chính sách tiền tệ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Lợi nhuận là thước đo phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời có mối quan hệ mật thiết và chỉ ra triển vọng phát triển của một ngân hàng. Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại thường được đo lường bằng các tỷ lệ sau đây: 1.1 Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản là tỷ số thể hiện tương quan giữa khả năng sinh lời và tài sản của ngân hàng. ROA cho thấy hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận hay nói cách khác ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng.
ROA thể hiện bình quân cứ 1 đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và được tính bằng công thức: Syfari (2012), Ayadi and Boujelbence (2012) và nhiều nhà nghiên cứu khác đã sử dụng tỷ lệ ROA để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA phụ thuộc vào nhiều nhân tố như quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng, quy mô tiền gửi khách hàng, khả năng vốn hóa của thị trường, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, cung tiền.2 Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. ROE cho thấy hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu. ROE thể hiện số tiền thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư một đồng vốn vào ngân hàng.
ROE được tính bằng công thức sau đây: ợ ậ ò ổ ố ủ ở ữ Trong các nghiên cứu của Gul, Irshad và Zaman (2011);Zeitun (2012); Ameur và Mhiri (2013); ROE được sử dụng làm biến phụ thuộc để phân tích các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. ROE cũng phụ thuộc vào các yếu tố như tài sản, vốn chủ sở hữu, tiền gửi của khách hàng, chi phí trên thu nhập. Theo những kết quả nghiên cứu trên, khả năng giải thích của các mô hình sử dụng ROE là biến phụ thuộc không cao bằng các mô hình với biến phụ thuộc là ROA. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu sẽ cho kết quả khả quan nhưng lại không thể phản ánh được những rủi ro có thể xảy ra sau đó.
ROE cũng không phản ánh được ảnh hưởng của việc sử dụng đòn bẩy tài chính.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động tín dụng của ngân hàng theo mức tài sản có sinh lời. Đây là yếu tố thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính. Trong khi ROA đo lường lợi nhuận thu được trên tổng tài sản và phản ánh hiệu quả quản lý tài sản của ngân hàng sử dụng nguồn lực đầu tư thực, NIM tập trung vào lợi nhuận trong hoạt động cho vay, đầu tư và các hoạt động tài trợ. NIM càng cao thì ngân hàng càng có nhiều lợi nhuận.
NIM được tính bằng công thức sau đây: ậ ã í ã à ả ó ờ Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm, theo dõi vì tỷ lệ này giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lời thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các tài sản có sinh lời cũng như tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp. Ameur và Mhiri (2013); Rachdi (2013) đã sử dụng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là một biến phụ thuộc trong các nghiên cứu về nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Tuy nhiên việc đo lường NIM không đề cập đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Vì vậy, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên lớn chưa thể phản ánh được hiệu quả kinh doanh thực của ngân hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thƣơng mại Một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu khả năng sinh lời của ngân hàng ở một khu vực, một nhóm các quốc gia có những điểm tương đồng hoặc chỉ tập trung trong phạm vi một quốc gia cụ thể. Kết quả thu được về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng được chia làm hai loại: các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài.1 Các nhân tố bên trong ngân hàng Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng là các nhân tố chịu ảnh hưởng bởi các quyết định mang tính chủ quan của bản thân nhà quản trị và các mục tiêu đề ra. Các nhân tố này bao gồm: quy mô tài sản, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tiền gửi khách hàng, hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, chi phí hoạt động, chính sách lãi suất, rủi ro thanh khoản, công nghệ thông tin và năng suất lao động.1 Quy mô tài sản ngân hàng Quy mô tài sản ngân hàng là kết quả của việc sử dụng vốn trong ngân hàng.
Đây là những tài sản được hình thành từ các loại nguồn vốn trong quá trình hoạt động. Các thành phần của tài sản bao gồm: ngân quỹ, danh mục tín dụng, danh mục đầu tư, tài sản cố định và các tài sản khác. Quy mô tài sản ngân hàng thể hiện sự tồn tại của tính lợi thế và phi lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Về mặt lý thuyết một ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có được lợi thế kinh tế nhờ quy mô và có thể cung cấp dịch vụ với chi phí trung bình thấp hơn từ đó có thể gia tăng lợi nhuận.
Tuy nhiên, khi quy mô ngân hàng quá lớn, tính phi lợi thế kinh tế nhờ quy mô sẽ xuất hiện. Những yêu cầu gia tăng chi phí trong việc quản lý, điều hành sẽ làm giảm lợi nhuận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng Vốn chủ sở hữu của ngân hàng hay còn được gọi là vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN. Vốn chủ sở hữu phản ánh sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng đặc biệt là trong thời gian mới thành lập và giúp ngân hàng kịp thời ứng phó khi có rủi ro phát sinh.
Các tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng như giới hạn tín dụng, giới hạn đầu tư. đều được xác định dựa trên vốn chủ sở hữu. Các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn sẽ làm giảm chi phí vốn góp phần gia tăng lợi nhuận của ngân hàng. Bên cạnh đó việc việc duy trì sự ổn định, tăng trưởng vốn chủ sở hữu một cách hợp lý sẽ giúp các ngân hàng nâng cao sức đề kháng trước các rủi ro và nguy cơ phá sản trong kinh doanh.3 Quy mô tiền gửi của khách hàng Tiền gửi của khách hàng là các khoản ký thác của doanh nghiệp, cá nhân vào tài khoản trong ngân hàng.
Tiền gửi của khách hàng bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với nhiều kỳ hạn gửi khác nhau. Tiền gửi là nguồn tài trợ chính có chi phí thấp nhất của ngân hàng. Quy mô tiền gửi càng lớn thì khả năng sử dụng vốn của ngân hàng càng tăng. Nguồn vốn huy động thường không đủ để cho vay tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.
Vì vậy, càng có nhiều tiền gửi được dùng để tài trợ cho các hoạt động tín dụng, thu nhập và lợi nhuận cho ngân hàng càng gia tăng. Ngoài ra, ngân hàng cần cân nhắc về chi phí huy động cũng như việc phân bổ tiền gửi một cách hợp lý. Điều này góp phần gia tăng khả năng huy động và đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng.