CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Tình hình rủi ro tín dụng của NHTM - Quản trị rủi ro tín dụng đã phát triển nhanh chóng trong thập kỷ vừa qua để giải quyết một số nhân tố phổ biến trong ngành ngân hàng. Những nhân tố này đã có trong tăng trưởng cơ cấu phá sản, cạnh tranh về lợi nhuận và tăng trưởng đáng kể các khoản vay ngoại bảng đã dẫn đến rủi ro vỡ nợ. - Quản lý rủi ro trong ngành ngân hàng đã được kiểm soát chặt chẽ hơn từ việc nỗ lực xây dựng các hệ thống quản trị rủi ro tín dụng phức tạp để có thể giải thích cho rủi ro cho vay và quan trọng hơn là lợi ích giảm rủi ro từ việc đa dạng hoá.
Mặc dù vậy, một số tổ chức tài chính đã trải qua những cuộc khủng hoảng tài chính do hệ thống quản lý rủi ro tín dụng kém hiệu quả, đặc trưng bởi mức cho vay đầu cơ cao và tập trung tín dụng vào các lĩnh vực phi hoạt động của nền kinh tế. - Các hoạt động quản lý rủi ro tín dụng không hiệu quả và quản lý chất lượng tài sản của các ngân hàng kém là nguyên nhân dẫn tới các vấn đề phá sản trong ngành ngân hàng (chủ yếu từ các tiêu chuẩn tín dụng được nới lỏng), quản lý và đánh giá rủi ro danh mục đầu tư do thiếu sự quan tâm về những thay đổi trong điều kiện kinh tế cũng làm ảnh hưởng xấu tới tình trạng tín dụng của các ngân hàng. - Tăng trưởng và đổi mới đối với dịch vụ ngân hàng đã giúp các bên liên quan và các nhà tài chính không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn sử dụng hệ thống quản trị rủi ro hiệu quả để bảo vệ lợi ích của cổ đông và hiệu quả hoạt động. Nguyên nhân đưa ra cho sự thất bại của quản trị rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng thương mại là vì chạy theo lợi nhuận lãi suất cho vay, thiếu khả năng dự báo kịp thời, tính chính xác và thông tin không hoàn hảo.
Trái ngược với những phát hiện từ các nền kinh tế phát triển, những điểm yếu vốn 1 có của các hoạt động quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại ở các nền kinh tế đang phát triển đặc biệt là Việt Nam vẫn chưa được khảo sát vì những điều này đã dẫn đến những tổn thất đáng kể như: phá sản, vỡ nợ cũng như việc sát nhập của một loại ngân hàng MHB, Mekong Bank, Sourthern Bank… Do đó, vẫn tồn tại những câu hỏi về các chính sách rủi ro tín dụng có hiệu quả trong việc kiểm soát rủi ro vỡ nợ trong ngành ngân hàng. Để kiểm tra điều này, bài luận văn này sẽ đánh giá các yếu tố quyết định rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu - Như vậy, rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại là một vấn đề luôn tồn tại trong quá trình kinh doanh. Do đó, việc nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân sinh ra rủi ro tín dụng là một việc thiết yếu và cấp bách nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nước nhà đang trong giai đoạn phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu - Bắt nguồn từ nội dung nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của bài luận văn này tập trung trả lời ba câu hỏi sau đây: 1. Mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô (chu kỳ kinh tế, lãi suất thực tế và lạm phát) với rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam là gì? 2. Mối quan hệ giữa các nhân tố vi mô (Rủi ro tín dụng của giai đoạn trước, lợi nhuận, hiệu quả quản lý chi phí, cơ cấu vốn, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng) với rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam? 3. Trong các yếu tố vi mô, nhân tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến rủi ro tín dụng? - Từ đó, sẽ đưa ra các kết luận cũng như quyết sách phù hợp để hoàn thiện hơn hệ thống tổ chức tín dụng nước nhà giai đoạn 2015 – 2020.
Tổng quan các công trình nghiên cứu - Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ việc suy giảm chất lượng khoản vay dẫn đến tổn thất kinh tế đối với tổ chức tài chính. Đặc biệt, rủi ro tín dụng ngân hàng phát sinh từ các khoản vay và ứng trước cho khách hàng và các hoạt động ngoại bảng như bảo lãnh, cam kết và thư tín dụng. Mặc dù, quản trị rủi ro tín dụng là phức tạp, các ngân hàng quản trị rủi ro này thông qua các hệ thống quản lý có cấu trúc khá tốt và có các kiểm soát nhằm đảm bảo rằng quá trình tín dụng được thực hiện phù hợp. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây điều tra các vấn đề liên quan đến rủi ro tín dụng ngân hàng đưa ra bằng chứng không thuyết phục (Hassan và cộng sự, 1994, Ariff and Marisetty 2001, Ahmad 2003, Ali and Daly 2010, Marfo-Yiadom and Agyei, 2011).
Các phát hiện từ các nghiên cứu này cho đến nay cung cấp các ý kiến khác nhau về cách tiếp cận và nguyên nhân của rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng. Ví dụ, hai trường phái tư tưởng với nhiều quan điểm khác nhau về quản lý rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng; các lý thuyết biến đổi bên trong và bên ngoài. Mặc dù lý thuyết biến đổi bên ngoài được hình thành trên hệ tư tưởng rằng những thay đổi trong môi trường hoạt động bao gồm cả thị trường tài chính, các quy định và điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng (Hassan và cộng sự, 1994, Corsetti và cộng sự, 1998, Ali và Daly, 2010) lý thuyết bên trong cho thấy các yếu tố bao gồm chất lượng tài sản, quy mô ngân hàng, lợi nhuận và vốn ngân hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các tổ chức tài chính (Berger và DeYoung 1997; Angbazo 1997, Ahmad and Ariff 2007). - Sau đó, Miller (2003) kiểm tra mức độ rủi ro phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh và cơ cấu thị trường.
Ngược lại, với Miller (2003), Bikker và Metzemakers (2005) cho rằng việc rủi ro xảy ra khi các ngân hàng cạnh tranh trong một môi trường có thị trường tiền gửi giới hạn. Adusei và cộng sự, (2014) tìm thấy mối liên hệ tiêu cực giữa đòn bẩy và rủi ro tín dụng của các ngân hàng ở Ghana bằng cách sử dụng bảng dữ liệu giai đoạn 2006-2010. Ngoài ra, phát hiện của họ cho thấy mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và trích 3 lập dự phòng. Mặc dù, Ahmad và Ariff (2007) cũng tìm thấy sự liên kết đáng kể tích cực giữa vốn và rủi ro tín dụng ngân hàng ở Nhật Bản, Malaysia và Mexicoo khi các ngân hàng hoạt động trong phạm vi nghiên cứu đòi hỏi phải tăng yêu cầu về vốn để thu hút lập các khoản dự phòng do rủi ro tín dụng.
Việc tìm kiếm của họ nhấn mạnh bằng chứng kết hợp tích cực từ nghiên cứu của Berger và DeYoung (1997) giữa vốn ngân hàng và rủi ro tín dụng. Trong đánh giá quản lý rủi ro tín dụng, Sandstorm, (2009) kết luận rằng rủi ro tín dụng ngân hàng chủ yếu là do thông tin bất cân xứng. Tương tự, Liang và Reichert (2012) kiểm tra năng lực thể chế không đầy đủ, các hướng dẫn tín dụng không hiệu quả, tỷ lệ an toàn vốn thấp, việc cho vay theo hạn ngạch do sự can thiệp của chính phủ và sự thiếu giám sát về phía ngân hàng trung ương làm gia tăng nguy cơ tín dụng trong ngành ngân hàng. Salas và Saurina (2002) cũng kết luận rằng tỷ lệ tăng trưởng GDP, nợ doanh nghiệp và cá nhân, sự mở rộng tín dụng nhanh chóng, sự không hiệu quả, thành phần danh mục đầu tư, quy mô, tỷ suất lợi nhuận ròng, tỷ lệ vốn và sức mạnh thị trường đóng góp vào rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại và tiết kiệm của Tây Ban Nha giai đoạn 1985 - 1997.
Mohamed và cộng sự (2015) cho thấy các khoản nợ xấu, trích lập dự phòng và chất lượng của các khoản cho vay là những yếu tố đóng góp cho hiệu quả hoạt động kém của các ngân hàng ở Sierra Leone giữa các giai đoạn 1997-2011, sử dụng cách tiếp cận hồi quy dữ liệu mảng. Tuy nhiên, các bằng chứng của họ cho thấy thêm rằng quy mô và lãi suất của ngân hàng lan rộng tác động tích cực ở mức lợi nhuận rất nhỏ trên khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại tại Sierra Leone. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Những vấn đề lý luận, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2016.
Phạm vi nghiên cứu - Dữ liệu được sử dụng trong mô hình định lượng là số liệu hàng năm của 20 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong bảy năm trong giai đoạn 2010- 2016 lấy từ cơ sở dữ liệu từ các báo cáo hàng năm của ngân hàng. Các ngân hàng được chọn làm mẫu nghiên cứu phải đảm bảo tồn tại và hoạt động cho đến năm 2016 với số liệu thống kê liên tục trong ít nhất 7 năm. Ngoài ra, các ngân hàng được yêu cầu phải đảm bảo đại diện cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam với 3 nhóm chính bao gồm nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần và nhóm ngân hàng nước ngoài hoặc liên doanh. Với số liệu thống kê vĩ mô, tôi sẽ sử dụng tính toán số liệu và thực hiện thu thập từ các báo cáo thống kê và số liệu do Tổng cục Thống kê công bố, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới trong cùng thời kỳ.
- Tuy nhiên, do số liệu các ngân hàng thu thập công bố không đầy đủ, và một số ngân hàng đã được sáp nhập nên tôi đã tiến hành sàng lọc và loại bỏ dữ liệu, chỉ giữ lại những ngân hàng có đầy đủ số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Kết quả, số ngân hàng đáp ứng đầy đủ yêu cầu về số liệu bao gồm 20 ngân hàng: 5 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG I. Khái niệm tín dụng Tín dụng là là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của NH. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay lại người sở hữu với giá trị lớn hơn ban đầu.
Phân loại tín dụng Ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích khác nhau.