Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 4: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 5: Kết luận và một số khuyến nghị nhằm nâng cao tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Lý thuyết nghiên cứu về thanh khoản.1 Khái niệm về thanh khoản. Theo định nghĩa của ngân hàng thanh toán quốc tế (Bank for international Settlements, 2008) cho rằng : “ Thanh khoản của ngân hàng là khả năng ngân hàng nhanh chóng huy động vốn và đáp ứng các nhu cầu đến hạn mà không phải chịu tổn thất ”. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn …” Như vậy, thanh khoản là đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghiệp vụ thanh toán khi đến hạn, đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Đối với một ngân hàng, tính thanh khoản được xét trên ba góc độ, bao gồm tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn vốn và tính thanh khoản của ngân hàng.
Tính thanh khoản của tài sản được hiểu là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản, được đo bằng thời gian và chi phí. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản cao nếu việc chuyển tài sản đó thành tiền mất thời gian ngắn và chi phí thấp. Tính thanh khoản của nguồn vốn là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, được đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn vốn huy động khi cần thiết. Thời gian và chi phí của nguồn vốn huy động càng thấp thì tính thanh khoản càng cao và ngược lại.
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn với một chi phí hợp lý. Đối với NHTM thì tính thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán, chi trả, rút tiền và xin vay mới theo các yêu cầu cấp tín dụng hợp lệ của ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Như vậy một ngân hàng được coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh với một chi phí hợp lý đúng vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu.2 Các trạng thái của thanh khoản. Cung thanh khoản là số tiền có sẵn hoặc có thể có trong thời gian ngắn để ngân hàng sử dụng.
Các bộ phận tạo nên nguồn cung thanh khoản gồm tiền gửi bổ sung của khách hàng, doanh thu từ các dịch vụ, tín dụng được trả, bán tài sản và vay từ thị trường tiền tệ. Trong đó, nguồn cung quan trọng nhất là nguồn tiền gửi bổ sung của khách hàng, tiếp đến là các khoản tín dụng được hoàn trả và doanh thu từ dịch vụ. Cầu thanh khoản là số tiền ngân hàng có nhu cầu chi trả ngay lập tức hoặc trong một thời gian ngắn. Các bộ phận tạo nên cầu thanh khoản gồm khách hàng rút tiền gửi, cấp tín dụng cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chi phí nghiệp vụ và thuế, chi trả cổ tức bằng tiền.
Trong đó, bộ phận cầu thanh khoản chủ yếu là khách hàng rút tiền gửi và cấp tín dụng cho khách hàng. Trạng thái thanh khoản ròng hay còn gọi là khe hở thanh khoản ( Net Liquidity Position – NLP) là chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại mọi thời điểm. NPL > 0: Ngân hàng phải đối mặt với thặng dư thanh khoản, tức dư thừa tiền mặt không có lãi suất, ngân hàng cần xác định nên đầu tư hiêu quả khoản thặng dư này NPL < 0: Ngân hàng phải đối mặt với thâm hụt thanh khoản, tức thiếu hụt tiền mặt để chi trả, ngân hàng cần xác định nguồn bổ sung thanh khoản. NLP = 0: Khi cầu thanh khoản bằng với cầu cung thanh khoản, ngân hàng đạt trạng thái cân bằng thanh khoản, tuy nhiên trong thực tế đây là trường hợp khó xảy ra.
Đánh giá trạng thái thanh khoản là công việc quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với bất kỳ NHTM nào. Một thực tế thường xuyên xảy ra là hiếm khi cung thanh khoản và cầu thanh khoản lại bằng nhau tại một thời điểm nào đó, nghĩa là các ngân hàng thường xuyên ở trong trạng thái thặng dư thanh khoản hoặc thiếu hụt thanh khoản. Chính điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải luôn nắm bắt và đánh giá được trạng thái TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thanh khoản của ngân hàng ở bất kỳ thời điểm nào để có thể nhanh chóng đưa ra những quyết định đúng đắn mang lại lợi nhuận tốt nhất cho ngân hàng từ nguồn vốn thặng dư (trong trường hợp ngân hàng thặng dư thanh khoản), hoặc tìm được nguồn tài trợ kịp thời cho những khoản thanh khoản thiếu hụt với mức chi phí hợp lý (trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản). Đánh giá tốt trạng thái thanh khoản cùng với những quyết định đúng lúc của nhà quản trị giúp cho ngân hàng một mặt tận dụng tốt nguồn vốn nhàn rỗi để tìm kiếm lợi nhuận, mặt khác giúp ngân hàng giải quyết tốt vấn đề thanh khoản, làm nâng cao tính thanh khoản cũng như uy tín của ngân hàng và tránh được việc ngân hàng rơi vào rủi ro thanh khoản.3 Rủi ro thanh khoản.
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp. Rủi ro thanh khoản xảy ra khiến cho ngân hàng phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín và có thể dẫn đến phá sản. Chúng ta có thể chia rủi ro thanh khoản làm bốn nhóm theo cấu trúc như sau: Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: Điều này liên quan đến cả tài sản và nợ. Việc rút tiền dựa trên cơ sở quyền chọn có thể được thực hiện.
Những khoản tiền gửi có thể được rút mạnh tay vào ngày sớm nhất thay vì đợi đến hạn. Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: Điều kiện thanh toán theo đúng hợp đồng. Rủi ro thanh khoản tài trợ: Nếu một tài sản không được tài trợ hợp lý, việc tài trợ theo sau đó có thể phải được thực hiện trong những điều kiện bất lợi, nghĩa là với giá chênh lệch cao hơn. Trong trường hợp xấu, thậm chí quỹ tiền có thể bị rút mạnh tay như trường hợp trên.
Rủi ro thanh khoản thị trường: Các điều kiện thị trường bất lợi có thể làm giảm khả năng chuyển các tài sản khả nhượng thành tiền mặt hoặc để tài trợ cần thiết. Hoặc theo nguồn gốc dẫn tới rủi ro thanh khoản ngân hàng, các nhà nghiên cứu thống nhất có thể chia rủi ro thanh khoản thành 3 nhóm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn, nhưng NHTM không sẵn có nguồn vốn để thanh toán, để chi trả. Với một lượng tiền gửi được yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc NHTM phải đi vay bổ sung trên thị trường tiền tệ, phải huy động vốn đột xuất với chi phí vượt trội, hoặc bán bớt tài sản để chuyển hoá thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả. Để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn thị trường hoặc vay trên thị trường với lãi suất cao để có lượng vốn khả dụng cần thiết.
Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có, chủ yếu phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng, cho vay. Có cam kết tín dụng cho phép người vay vốn tiến hành rút tiền bất cứ lúc nào trong thời hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Khi một người vay yêu cầu NHTM thực hiện cam kết tín dụng thì NH phải đảm bảo đủ tiền ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu không NH sẽ phải đối mặt với uy tín trên thương trường, thậm chí đối mặt với mất khả năng thanh toán. Tương tự, nguyên nhân rủi ro đến từ bên tài sản Nợ, khi đó NHTM sẽ phải huy động thêm nguồn vốn mới với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp.
Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh, rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng. Khi mà các nghĩa vụ thanh toán bất thường xảy ra như cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn. Các hợp đồng đó đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản. Khi đó, NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản nhanh chóng hay dễ dàng chuyển thành tiền, những công cụ có thể giao dịch trên thị trường tiền tệ.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng, rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla và Escorbiac, 2006).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2010), có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là: “Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn. Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.” “Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận.