Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Á Châu. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Á Châu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4/104 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu, qua đó giành lấy những vị thế tốt trên thị trường. Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh Theo Michael Porter, lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó.
Đó cũng chính là giá trị mà khách hàng sẵn sàng chi trả và ngăn trở đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương. Như vậy, lợi thế cạnh tranh là tập hợp những giá trị có thể sử dụng vào việc nắm bắt cơ hội, là những gì mà chủ thể kinh tế đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh tạo ra sức mạnh của năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh Các lý thuyết cổ điển Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết cổ điển về năng lực cạnh tranh là Adam Smith và David Ricardo.
Theo Adam Smith, nguồn gốc của quá trình thương mại giữa hai hay nhiều quốc gia là do mỗi quốc gia có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về một ngành nào đó so với quốc gia khác. Trong khi đó, David Ricardo cho rằng, các quốc gia không có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối vẫn có thể mua bán trao đổi nhờ có lợi thế tương đối. Lý thuyết năng lực cạnh tranh của Michael Porter Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter là việc đề xuất mô hình 5 áp lực: sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; mối đe doạ về việc một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5/104 đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ xuất hiện các sản phẩm thay thế; vai trò của khách hàng và cuối cùng là các nhà cung cấp đầy quyền lực. Theo Michael Porter, có các loại chiến lược cạnh tranh chính: Chiến lược giá phí thấp (Cost leadership/ Low cost) thực hiện khi công ty có lợi thế của tính kinh tế theo quy mô (economic of scale); Chiến lược khác biệt hoá (Differentiation) nghĩa là làm cho công ty có nét riêng trong ngành mà những nét riêng ấy có giá trị đối với khách hàng.
Nếu theo đuổi một trong hai chiến lược trên nhưng tập trung vào một phân đoạn thị trường hay một nhóm phân đoạn thị trường thì gọi là Chiến lược tập trung (focus). Các trường phái khác a) Các quan điểm không đồng tình với Michael Porter: Scott Hoenig nhấn mạnh việc nâng cao doanh thu hơn việc giảm chi phí; Gary Hamel cho rằng cạnh tranh là cuộc chiến giành cơ hội trong tương lai nên không thể dùng mô hình “5 yếu tố” của Michael Porter để phân tích; Paul Krugman chứng minh rằng nỗi ám ảnh về NLCT có thể làm cho quốc gia bị lạc hướng. b) Các trường phái lý thuyết NLCT khác như: trường phái “quản trị chiến lược”, trường phái “NLCT hoạt động”, trường phái “NLCT dựa trên tài sản”, trường phái “NLCT theo quá trình”. c) “Chiến lược đại dương xanh” theo quan niệm của Chan Kim và Renée Mauborgne là làm cho cạnh tranh trở nên không cần thiết.
Chiến lược này chính là chiến lược đột phá để doanh nghiệp khai phá con đường riêng, tìm kiếm những khoảng trống thị trường tiềm năng, làm cho đối thủ mất thế cạnh tranh. Như vậy, có quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ. Cũng có quan điểm đồng nhất NLCT của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh và trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thông qua các cách tiếp cận trên có thể định nghĩa tóm gọn: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6/104 bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Trong thực tế, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng mà thông thường, doanh nghiệp có lợi thế về mặt này thì có hạn chế về mặt khác. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp nhận biết được và cố gắng phát huy những điểm mạnh mà mình đang có, khắc phục và hạn chế nhược điểm để đáp ứng tốt nhất (như có thể) những đòi hỏi của khách hàng. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững.
Về đặc điểm, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trên thị trường, ngân hàng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính khác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và gia tăng thị phần. Tuy nhiên, so với các loại hình doanh nghiệp khác, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại có một số đặc điểm sau: Cạnh tranh và phải tuân thủ pháp luật vì kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, văn hóa. Khi mỗi một nhân tố này thay đổi sẽ có tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh của ngân hàng, và với vai trò là huyết mạch, tác động này lại được dẫn truyền đến các ngành, các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Một đặc điểm khác là tính hệ thống rất cao.
Việc một ngân hàng thương mại bị suy yếu, gặp khó khăn về thanh khoản và có nguy cơ đổ vỡ sẽ có tác động dây chuyền, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tổ chức tài chính khác. Cũng chính vì hoạt động của các ngân hàng có liên quan đến nhiều chủ thể cũng như nhiều mặt hoạt động kinh tế xã hội nên Ngân hàng Nhà nước luôn giám sát chặt chẽ thị trường này để cảnh báo, phòng ngừa sớm các rủi ro. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Các yếu tố nội bộ ngân hàng. Các yếu tố theo mô hình CAMEL. Hệ thống CAMEL phân tích năm khía cạnh truyền thống được xem là quan trọng nhất trong hoạt động của của tổ chức tài chính, phản ánh các điều kiện tài chính và khả năng hoạt động nói chung của tổ chức, bao gồm: C-Capital Adequacy (Vốn); A-Asset Quality (Chất lượng tài sản); M-Management (Quản trị); E- Earnings (Sinh lời) và L-Liquidity (Thanh khoản). VỐN (C - Capital Adequacy) Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, vốn là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Vốn được đề cập ở đây là vốn tự có, là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và từ lợi nhuận để lại trong quá trình kinh doanh. Dù chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng vốn tự có giữ vị trí rất quan trọng, quyết định quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng như: được huy động bao nhiêu vốn trên thị trường, đáp ứng các món vay ngày càng mở rộng cũng như các định hướng phát triển tài sản tiềm năng mà ngân hàng cần đạt được. Mặt khác, nguồn vốn này của ngân hàng chính là tấm đệm chống đỡ sự giảm sút của tài sản Có của ngân hàng. Vốn của ngân hàng thường được đo lường bằng các chỉ tiêu sau: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR - Capital adequacy ratio) Vốn tự có để tính tỷ lệ An toàn vốn tối thiểu CAR = *100% (1.1) Tổng tài sản “Có” rủi ro quy đổi Vốn tự có để tính tỷ lệ An toàn vốn tối thiểu = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 – Các khoản phải loại trừ khỏi vốn tự có - Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản): gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn 1 Yếu tố “Độ nhạy đối với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market risk)” không đề cập trong luận văn này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8/104 điều lệ; quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia, thặng dư cổ phần được tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có) và các khoản khác phải loại trừ khỏi vốn cấp 1 như: lợi thế thương mại; khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế; các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác hoặc của công ty con. - Vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung): 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định pháp luật; 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định pháp luật; Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành; Các công cụ nợ khác với điều kiện: chủ nợ là thứ cấp so với chủ nợ khác, không được ưu tiên thanh toán, có kỳ hạn ban đầu tối thiểu là 10 năm, không được đảm bảo bằng tài sản của ngân hàng; Dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tổng tài sản có rủi ro. Dự phòng chung được trích theo tỷ lệ 0,75% các khoản nợ từ nhóm 1 đến 4. - Các khoản phải trừ khi tính vốn tự có: 100% số dư nợ tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định pháp luật; 100% số dư nợ tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định pháp luật.
Tổng tài sản “Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro.