chương 1, luận văn đã giới thiệu lý do và sự cần thiết đề tài. Từ đó, bài luận văn trình bày mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng với phương pháp nghiên cứu tổng quát để có cái nhìn tổng quát đối với đề tài luận văn và kết cấu của luận văn. Bài luận văn có một số ý nghĩa khoa học là những đóng góp và cơ sở cho hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Nội dung chương này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh và một số nghiên cứu liên quan đến đánh giá năng lực cạnh tranh.
Về khung lý thuyết năng lực cạnh tranh, đề tài tìm hiểu một số khái niệm có mối liên hệ mật thiết với năng lực cạnh tranh như: cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, trình bày khái quát hai phương pháp định lượng áp dụng đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng: tiếp cận cấu trúc và phi cấu trúc. Đề tài lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu lý thuyết đề cập đến việc đánh giá năng lực cạnh tranh NHTM.1 Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh 2.1 Khái niệm về cạnh tranh kkinh tế. Song một trong những khó khăn là không có một sự đồng nhất về khái niệm cạnh tranh.
Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia. Theo Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch". Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận.
Theo Klemperer (1987), cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giá cả và cạnh tranh phi giá cả giữa những nhà sản xuất để đạt được những thỏa thuận tốt nhất với người mua mà không nhất thiết phải có nhiều người bán cũng như sự cân bằng cung cầu trên thị trường. Ngoài ra, một số từ điển cũng đưa ra những nhận định khác nhau về khái niệm cạnh tranh như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo từ điển Cambridge, cạnh tranh là việc một người hay một chủ thể kinh doanh cố gắng để thành công hơn đối thủ của mình, ví dụ như đạt được nhiều doanh số bán trên thị trường, chiếm lĩnh nhiều thị phần hơn,. Trong từ điển kinh doanh khái niệm cạnh tranh được hiểu là: Cạnh tranh trong đó mỗi người bán cố gắng để đạt được những gì người bán hàng khác đang tìm kiếm cùng một thời điểm như: doanh số, lợi nhuận và thị phần của sản phẩm cùng với sự kết hợp tốt nhất về giá cả, chất lượng, và dịch vụ. Trường hợp thông tin thị trường chảy tự do, cạnh tranh đóng một chức năng điều tiết cân đối cung cầu.
Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là: “Cạnh tranh là chạy đua trong kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau, với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”. Từ các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh. Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: đó là các chủ thể có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt. Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cạnh tranh của các NHTM là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các NHTM trên thị trường về các sản phẩm dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các lợi thế cụ thể như vốn, nhân lực, chiếm lĩnh thị phần, giành lấy khách hàng… và mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu đó cần phải có sự kết hợp tối ưu về giá cả và chi phí; tăng chất lượng dịch vụ, quảng cáo… Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau các chủ thể tham gia, mà là động lực cho sự phát triển của các NHTM. Cạnh tranh thường đem đến nhiều ích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 lợi cho người tiêu dùng vì giá cả thấp hơn, chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt hơn và đặc biệt tạo ra sự đa dạng trong việc lựa chọn các sản phẩm dịch vụ.2 Lợi thế cạnh tranh Porter (1998) nhận định rằng: Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng. Mặc dù, đối thủ cạnh tranh đưa ra những mức giá thấp hơn cho những sản phẩm dịch vụ tương đương nhưng khách hàng vẫn sẵn lòng chi trả mức giá cao hơn tương đương với giá trị của doanh nghiệp đó.
Ehmke (2008) cho rằng: Lợi thế cạnh tranh là một lợi thế đạt được vượt hơn đối thủ cạnh tranh bằng cách phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, hoặc là thông qua giá cả thấp hơn hoặc cung cấp thêm các lợi ích và dịch vụ với giá tương tự hay cao hơn. Đối với nhà quản trị và nhà sản xuất tham gia vào thị trường cạnh tranh, việc tìm kiếm và duy trì một lợi thế cạnh tranh đồng nghĩa với việc gia tăng lợi nhuận, từ đó tạo ra sự bền vững và thành công trong dài hạn. Thống nhất các nội dung trên, đề tài này cho rằng lợi thế cạnh tranh của NHTM được hiểu là: những điểm ưu việt của ngân hàng tạo ra thông qua các tính năng của sản phẩm và dịch vụ hoặc thương hiệu nhờ đó các NHTM tạo ra lợi thế vượt trội, khác biệt hơn so với những đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Theo Porter (1998), NHTM muốn có lợi thế cạnh tranh lâu dài thì hoặc phải tạo ra sự khác biệt, hoặc vận hành với hiệu quả cao để có chi phí thấp, hoặc tập trung vào một phân khúc khách hàng cụ thể, am hiểu rõ nhu cầu và phục vụ khách hàng tốt nhất.
Theo Michael Porter có 3 chiến lược cơ bản như sau: Dẫn đầu về chi phí Giải pháp thông thường của các NHTM là giảm tối đa chi phí để có được bằng cách phí dịch vụ thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Như vậy, NHTM phải tận dụng tốt hai lợi thế: lợi thế của sự học hỏi và lợi thế về quy mô. Để có thể gia tăng quy mô hay còn gọi là tăng số lượng bán ra, NHTM sẽ tập trung gộp các phân khúc thị trường nhỏ vào thành phân khúc lớn. Do lặp đi lặp lại cung cấp một số sản phẩm, dịch vụ nên NHTM phải liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ bằng cách bán chéo các sản phẩm, kết hợp các tính năng của sản phẩm; đào tạo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 huấn luyện đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, từ đó năng suất lao động sẽ tăng lên.
Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì NHTM buộc phải theo hình thức này. Khác biệt hóa Mục đích của chiến lược khác biệt hóa là để tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ khác biệt mà đối thủ cạnh tranh không có được. Khách hàng sẵn lòng chi trả một mức giá cao hơn để có được sản phẩm dịch vụ đó. Khác biệt hóa sẽ đến từ các yếu tố như: chất lượng, sự đổi mới, khả năng thích ứng với nhu cầu đa dạng và thường xuyên thay đổi của khách hàng.
Tuy nhiên, chiến lược này rất khó áp dụng trong hệ thống NHTM vì hoạt động cung cấp dịch vụ trong thị trường NHTM rất dễ sao chép, việc tạo sự khác biệt giữa các sản phẩm không quá lớn và không mang tính bền vững, lâu dài. Chiến lược tập trung hóa NHTM chỉ tập trung phục vụ cho một phân khúc thị trường rất nhỏ. Tại phân khúc này NHTM sẽ thực hiện kết hợp chi phí thấp và sự khác biệt hóa. Ưu điểm của chiến lược này là họ rất am hiểu khách hàng.
Một số NHTM khác khi tham gia vào phân khúc này hoặc là không thể chịu nổi giá bán đó hoặc là không thể tạo ra sự khác biệt hóa để thu hút khách hàng. Các NHTM lớn có tiềm lực thì lại không muốn tấn công vào phân khúc thị trường nhỏ đó vì sẽ rất tốn công sức.3 Năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể cung ứng sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động lẫn các chủ doanh nghiệp”.
Năm 1988, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa: “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng cụ thể.