CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về DNVVN DNVVN là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô, đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNVVN. Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của CP, đã định nghĩa như sau: DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN của Việt Nam Quy mô DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động Khu vực động nguồn vốn động vốn I. Nông, 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm trở trở xuống người đến đồng đến 100 người đến nghiệp và xuống 200 tỷ đồng 300 người thủy sản người II.
Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở trở xuống người đến đồng đến 100 người đến xây dựng xuống 200 tỷ đồng 300 người người III. 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thương trở trở xuống người đến đồng đến 50 người đến mại và xuống 50 người tỷ đồng 100 người dịch vụ (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của CP) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân loại DNVVN 1. Phân loại theo tiếp cận định lượng Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa và nhỏ.
Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNVVN có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới. Việc phân loại này căn cứ vào các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNVVN của một số quốc gia và khu vực Quốc gia/ Số lao Doanh Phân loại DN vừa và nhỏ động bình Vốn đầu tư Khu vực quân thu A. NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1. Hoa Kỳ Nhỏ và vừa 0-500 Không quy Không định quy định Đối với ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu Không 2.
Nhật Đối với ngành thương mại 1-100 ¥ 0-100 triệu quy định Đối với ngành dịch vụ 1-100 ¥ 0-50 triệu 3. EU Siêu nhỏ < 10 Không quy Không Nhỏ < 50 định quy định Vừa < 250 4. Vừa và nhỏ < 200 Không quy Không Australia định quy định 5. Canada Nhỏ < 100 Không quy <$5 triệu Vừa < 500 định $5-20 triệu 6.
New Vừa và nhỏ < 50 Không quy Không Zealand định quy định 7. Korea Vừa và nhỏ < 300 Không quy Không định quy định 8. Taiwan Vừa và nhỏ < 200 < NT$ 80 < NT$ triệu 100 triệu B. NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1.
Vừa và nhỏ Không < Baht 200 Không Thailand quy định triệu quy định TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy RM 0-25 Malaysia định triệu 3. Philipin Vừa và nhỏ < 200 Peso 1,5-60 Không triệu quy định 4. Vừa và nhỏ Không < US$ 1 triệu < US$ 5 Indonesia quy định triệu 5.
Brunei Vừa và nhỏ 1-100 Không quy Không định quy định C. NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI 1. Russia Nhỏ 1-249 Không quy Không Vừa 250-999 định quy định 2. China Nhỏ 50-100 Không quy Không Vừa 101-500 định quy định 3.
Poland Nhỏ < 50 Không quy Không Vừa 51-200 định quy định 4. Siêu nhỏ 1-10 Không quy Không Hungary Nhỏ 11-50 định quy định Vừa 51-250 (Nguồn: DNVVN, APEC, 1998; Định nghĩa DNVVN, UN/ECE, 1999; Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000) Hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại DN theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ.
Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát. nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại DN. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà DN đang tham gia. Đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi.
Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên. Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ngân hàng thế giới và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá. Theo World Bank, DN được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: DN siêu nhỏ (số lao động < 10 người), DN nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới 50 người), DN vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), DN lớn (số lao động > 300 người).
Tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính tương đối, do quá trình phân loại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, tính chất ngành nghề, trình độ phát triển của DN, sự khác biệt giữa các vùng trong một quốc gia, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Mỗi một yếu tố đều có một ý nghĩa, tùy theo quan điểm và điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có một sự phân loại riêng. Phân loại theo tiếp cận định tính Phân loại tiếp cận định tính nhằm khắc phục nhược điểm của phân loại định lượng bằng cách nghiên cứu các quan hệ của DN với môi trường kinh doanh. Do vậy, tiếp cận này nghiêng về quản trị và cấu trúc tổ chức DN: Vấn đề sở hữu Các DNVVN được tạo lập khá dễ dàng, có thể quản lý theo quy mô hộ gia đình, hoặc quan hệ bạn bè.
Để thành lập một DNVVN chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu không lớn. Hình thức sở hữu ban đầu lại có thể ảnh hưởng đến cách tổ chức và sự phát triển của DN. Chẳng hạn, các DNVVN mang tính cách gia đình chắc chắn sẽ có phương cách tổ chức và quản lý khác với một công ty cổ phần mà các cổ đông góp vốn không nhất thiết phải là những người thân thuộc. Chiến lược và mục tiêu Nhiều nghiên cứu cho thấy các chiến lược thực thi của các nhà lãnh đạo các DNVVN nhằm bảo vệ quyền lợi bằng cách giữ tính độc lập và tự chủ cho DN.
Ngay cả mục tiêu lợi nhuận cũng không hẳn giống nhau giữa các DN lớn và các DNVVN. Các lý do có thể kể ra như sau: Về mặt lợi nhuận, các DN lớn quan tâm đến các chiến lược dài hạn, trong khi các DNVVN quan tâm đến các chính sách ngắn hạn hơn. Mục tiêu của các chủ và lãnh đạo DNVVN không phải để gia tăng giá trị DN mà là gia tăng gia sản và nhận các quyền lợi cá nhân. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tăng trưởng và phát triển Lý thuyết về vòng đời DN cho rằng mọi DN gần như đều theo một quá trình tiến triển giống nhau là mới sinh ra với quy mô nhỏ, sau khi đã trải qua các giai đoạn khác nhau để trở thành các DN lớn, miễn là không bị đào thải giữa chừng.
Theo Julien (1994), lý thuyết này đã đặt ra các vấn đề cần phân tích. Một mặt, gần như các DNVVN không hướng đến chiến lược tăng trưởng. Mặt khác, lĩnh vực hoạt động, thị trường, hoàn cảnh cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của DNVVN. Ngoài ra, DNVVN khó có thể trả lương cao cho người lao động, đặc biệt là tìm kiếm nhân tài để phục vụ cho công tác điều hành, quản lý so với các DN lớn.
Loại hình hoạt động và thị trường Tiêu chí này quan tâm đến các mối quan hệ giữa hành vi chủ DN - nhà điều hành DNVVN, lĩnh vực hoạt động, sản phẩm làm ra, công nghệ sử dụng và mối quan hệ với các DN khác, đặc biệt là các DN lớn. So với các DN lớn thì DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến. Vì thế các DNVVN thường quan tâm đến thị trường truyền thống và những khách hàng thường xuyên, ít quan tâm đến việc củng cố, mở rộng thị trường mới. DNVVN có ưu thế là linh hoạt, cơ cấu ngành nghề đa dạng, đáp ứng được nhiều nhu cầu của thị trường nhưng do khả năng hạn chế, DNVVN dễ bị tác động của môi trường vĩ mô như tình trạng suy thoái, lạm phát, giá dầu mỏ tăng cao… trong nền kinh tế, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN.
Ưu thế và hạn chế của DNVVN 1. Ưu thế của DNVVN DNVVN có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường. DNVVN có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các DN lớn do quy mô của DN TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhỏ, sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất.