CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA HỘ NGHÈO Ở NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về tiếp cận tín dụng của hộ nghèo 1. Một số vấn đề về nghèo đói 1. Khái niệm về nghèo, hộ nghèo Để phục vụ cho công tác nghiên cứu và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam, theo chiến lược xóa đói giảm nghèo năm 2002 Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do AESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra quan điểm về đói nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 như sau: “Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng (từ 2.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng (từ 10.000 đồng/người/năm) trở xuống”. Thông tư 24/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn các tiêu chí để xác định hộ nghèo như sau: “Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật. Hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo là hộ nghèo, có ít nhất một thành viên trong hộ còn khả năng lao động”.
Tiêu chí để xác định nghèo đói Việc xác định công cụ để lượng hóa tỷ lệ nghèo đói, số lượng người nghèo đói một phần còn mang tính chủ quan và có nhiều điểm khác nhau. Ngay cả trong một quốc gia cũng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau. - Tiêu chí đánh giá đói nghèo quốc tế: Theo chuẩn quốc tế, đường đói nghèo được chia thành hai loại. Đường đói nghèoở mức thấp gọi là đường đóinghèo vềlương thực,thực phẩm.
Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói 6 nghèo chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và chi lương thực, thực phẩm). Ở Việt Nam, chuẩn nghèo đói được phân theo chuẩn nghèo quốc gia, dựa vào thu nhập bình quân khẩu/tháng. Dựa vào chỉ tiêu tổng hợp, tùy theo từng địa phương, nước ta còn phân các nhóm hộ ra nhiều mức khác nhau, nhưng phổ biến là: hộ đói, nghèo, trung bình, khá và giàu. Do mức sống của người dân ngày càng tăng, cùng với định hướng chung là từng bước tiếp cận với các nước trong khu vực về xóa đói giảm nghèo nên chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn có sự thay đổi tăng cao hơn.
* Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2015: Theo Quyết định số 09/2011/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015. - Chuẩn nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng hoặc 4.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng hoặc 6.000 đồng/người/năm trởxuống là hộ nghèo. - Chuẩn cận nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. *Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2016 - 2020: Theo quyết định số 59/2015/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. - Chuẩn nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng hoặc 8.000 đồng/người/năm trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 900.000 đồng/người/tháng hoặc 10.000 đồng/người năm trở xuống là hộ nghèo.
7 - Chuẩn cận nghèo: Đối với khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân từ 1.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Đối với khu vực thành thị: Thu nhập bình quân từ 1.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo. Khái niệm về tín dụng và mức độ tiếp cận tín dụng của hộ nghèo 1. Khái niệm về tín dụng Theo Luật số 20/2004/QH11 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng, “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”.
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định (Theo Nguyễn Minh Kiều, 2008). Theo Đại từ điển kinh tế thị trường “Tín dụng là những hành động cho vay và bán chịu hàng hóa và vốn giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức. Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hóa đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn giá trị thanh toán”.
Ngoài ra tín dụng được coi là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ cho vay và người vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong một thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay kèm theo một khoản lãi”. Như vậy bên cho vay là người chủ sở hữu của số tiền hay hàng hóa đã chuyển giao quyền sử dụng trong một thời gian nhất định với mục đích sinh lời. Tóm lại, tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của tiền tệ (vốn vay), bên cạnh đó còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết dựa vào lòng tin.
Tín dụng từ xa xưa dựa vào lòng tin là chủ yếu, ngày nay nó được pháp luật bảo trợ. Tín dụng biểu hiện mối liên hệ kinh tế gắn liền với các quá trình phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả. Cơ sở vật chất tín dụng là tiền tệ và hàng hóa. 8 Tín dụng đối với hộ nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những hộ nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp hộ nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng (Ngô Thị Huyền, 2005).
Các mức độ tiếp cận tín dụng của hộ nghèo Sự tiếp cận là hình thức hoạt động của một hệ thống cụ thể. Nó vừa cung cấp thông tin, khích lệ, hướng dẫn về tổ chức, lãnh đạo, xây dựng chương trình, huy động, sử dụng các nguồn lực và tạo dựng các mối liên kết. Tùy theo mục tiêu, lĩnh vực nghiên cứu mà có các hướng tiếp cận khác nhau như tiếp cận giới, tiếp cận thị trường, tiếp cận tín dụng, tiếp cận khuyến nông. Như vậy, tiếp cận tín dụng là những hoạt động của người có nhu cầu, người hưởng lợi nhằm tìm hiểu, nắm bắt thông tin về tín dụng cũng như điều kiện và phương thức để thiết lập mối quan hệ cung cấp dịch vụ tín dụng với NHCSXH tại một khu vực hay một địa phương nào đó.
Sự tiếp cận diễn ra theo hai phía ngược chiều nhau, từ NHCSXH đến người vay và ngược lại. Trong đó NHCSXH cung cấp dịch vụ tín dụng là người sở hữu lượng giá trị và người vay chính là người có nhu cầu sử dụng lượng giá trị này. Sự tiếp cận tín dụng của người vay được hiểu theo các nghĩa ở các mức độ khác: + Người vay được nghe, tìm hiểu về các dịch vụ tín dụng; + Người vay đã được nghe, được tìm hiểu về các dịch vụ tín dụng và họ có nhu cầu muốn được vay vốn tại các tổ chức này; + Người vay đã được biết và hiểu đầy đủ về quyền lợi của mình khi được vay vốn từ NHCSXH này và họ đã làm thủ tục vay vốn và đã được vay; + Người vay thường xuyên vay vốn từ các tổ chức (Sầm Thị Hằng, 2013). Tiếp cận tín dụng của hộ nghèo là những hoạt động của hộ nghèo nhằm tìm hiểu, nắm bắt thông tin về vốn tín dụng cũng như điều kiện và phương thức để thiết lập mối quan hệ cung cấp dịch vụ tín dụng của NHCSXH tại một khu vực hay địa phương.
Sự tiếp cận diễn ra theo hai phía ngược chiều nhau, từ NHCSXH đến với 9 hộ nghèo và ngược lại; tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng là người sở hữu lượng giá trị và hộ nghèo vay vốn chính là hộ có nhu cầu sử dụng lượng giá trị đó để giúp họ mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng. Đặc điểm của tín dụng đối với hộ nghèo Đặc điểm của tín dụng cho hộ nghèo bao gồm: Mục tiêu của tín dụng cấp cho hộ nghèo không phải là thu lợi nhuận mà nhằm xoá đói giảm nghèo, nhưng vẫn phải đảm bảo đủ bù đắp chi phí, an toàn và phát triển vốn vay. Đối tượng vay vốn là hộ nghèo, chủ yếu là những hộ có thu nhập thấp và các đối tượng chính sách xã hội khác. Những hộ thuộc diện nghèo do neo đơn, không nơi nương tựa; không có sức lao động; lười biếng; phạm các tệ nạn xã hội thì thuộc diện đối tượng trợ cấp xã hội, cải tạo xã hội … đều không thuộc đối tượng được vay vốn (Ngô Thị Huyền, 2005).
Nguồn vốn huy động để cho vay: - Một là: Vốn do NSNN cấp và các nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; - Hai là: Vốn huy động có trả lãi của các tổ chức, cá nhân; - Ba là: Vốn đi vay của các tổ chức tài chính, tín dụng; - Bốn là: Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, tổ chức; - Năm là: Vốn nhận uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế; - Sáu là: Các nguồn vốn khác.