Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu về cơ sở hình thành đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Nội dung chương này liên quan đến giới thiệu chung về hệ thống ngân hàng Việt Nam, khái niệm khả năng sinh lợi, các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi và tóm tắt một số nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu. Chương này sẽ mô tả phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu, đưa ra mô hình dựa trên thực trạng của hệ thống ngân hàng Việt Nam và những nghiên cứu thực nghiệm trước đây. Đồng thời, chương này cũng mô tả phương pháp thu thập dữ liệu, tính toán các biến số nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương này đưa ra kết quả nghiên cứu và nhận xét về phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, phân tích từ mô hình cấu trúc. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu. Chương 5 cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này giới thiệu về tổng quan hệ thống ngân hàng Việt Nam, khái niệm khả năng sinh lợi và các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng cũng như trình bày những nghiên cứu thực nghiệm trước đây nhằm làm cơ sở cho việc xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Việt Nam ở những chương sau. Kết cấu của chương gồm ba phần: Phần 1 giới thiệu chung về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết bao gồm giới thiệu khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại. tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Giới thiệu chung về hệ thống ngân hàng Việt Nam Ngành ngân hàng Việt Nam được bắt đầu bằng sự ra đời của ngân hàng Quốc gia Việt Nam vào ngày 06/05/1951. Hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức theo mô hình ngân hàng một cấp từ trung ương (ngân hàng nhà nước) đến địa phương (chi nhánh ngân hàng nhà nước) phân bố theo địa giới hành chính. Hệ thống ngân hàng theo mô hình này hoạt động dưới sự quản lý của Ngân hàng nhà nước và đồng thời dưới sự chỉ đạo của nhà nước cũng như hướng dẫn của chính quyền địa phương. Nói cách khác, hệ thống ngân hàng chỉ là công cụ để thực hiện các mệnh lệnh, các chỉ tiêu kế hoạch của chính phủ giao cho ngân hàng.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu thực hiện cải cách sau sự ra đời của Nghị định 53 của Hội đồng bộ trưởng ban hành năm 1988 về thực hiện thí điểm hệ thống ngân hàng hai cấp và hai pháp lệnh ban hành năm 1990: Pháp lệnh về Ngân hàng nhà nước và pháp lệnh về các tổ chức tín dụng.1: Cấu trúc của hệ thống ngân hàng Việt Nam sau năm 1990 Hệ thống ngân hàng Việt Nam Ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngân hàng thương mại (SBV) Ngân hàng thương mại cổ phần Chi nhánh ngân hàng Ngân hàng thương mại nhà Chi nhánh ngân hàng nước nhà nước Ngân hàng liên doanh ngoài (BFOBs) nước (SOCBs) (JSCBs) Nguồn: Ngo, 2012 (JVBs) Theo pháp lệnh năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam được chuyển từ một cấp sang hai cấp. Ngân hàng nhà nước là cấp thứ nhất, ngân hàng thương mại là cấp thứ hai. Ngân hàng nhà nước chú trọng hơn vào vai trò ngân hàng trung ương, xoá bỏ độc quyền nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, cho phép thành lập ngân hàng thương mại thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng trong quá trình phát triển của đất nước, Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1997 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý vững chắc cho hoạt động ngân hàng.
Qua hơn hai thập niên kể từ năm 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự phát triển vượt bậc không chỉ trong số lượng ngân hàng mà còn trong tỷ trọng đóng góp của ngành ngân hàng trong nền kinh tế, lượng tín dụng đã cung cấp, tỷ lệ của khối tiền tệ M2 trên GDP (Ngo, 2012).2: Tóm tắt một số chỉ tiêu của hệ thống ngân hàng Việt Nam Nguồn: ADB 2012 (Ngo, 2012) Số lượng ngân hàng tăng từ 9 ngân hàng vào năm 1991 lên 92 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài vào năm 2009. Trong đó, số lượng tăng lên chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần (từ 4 ngân hàng năm 1991 lên 37 ngân hàng vào năm 2009) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (từ 0 ngân hàng vào năm 1991 lên đến 45 ngân hàng vào năm 2009). Điều này dẫn đến lượng tín dụng cung cấp và cung tiền M2 tăng nhanh chóng và đạt 120% so với GDP vào năm 2009, thanh toán bằng tiền mặt giảm liên tục và tỉ lệ tiền mặt so với cung tiền M2 còn khoảng 20% vào năm 2009. Bên cạnh đó, quy mô ngành ngân hàng cũng được mở rộng một cách đáng kể những năm gần đây.
Theo thống kê của IMF, tổng tài sản của ngành đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2007 – 2010 từ 1097 nghìn tỷ lên 2690 nghìn tỷ và đạt khoảng 4960 nghìn tỷ năm 2011. Việt Nam cũng nằm trong nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng tài sản ngành ngân hàng nhanh nhất trên thế giới theo thống kê của The Banker. Sự tăng trưởng hệ thống tập trung vào 2 mảng hoạt động truyền thống là cho vay và huy động với tốc độ tăng trưởng cao, tín dụng tăng trung bình 32%, huy động tăng 29% trong giai đoạn 2000 – 2010.3: Thị phần huy động vốn và thị phần cho vay của hệ thống ngân hàng Việt Nam Thị phần huy động vốn Thị phần cho vay Nguồn: VCBS tổng hợp Khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm ưu thế về vốn nhưng thị phần ngày càng giảm cả trong mảng huy động vốn và mảng cho vay. Thị phần huy động giảm từ 74.7% vào năm 2010 trong khi thị phần cho vay giảm từ 74.
Khách hàng chủ yếu của khối này là doanh nghiệp nhà nước với đặc điểm là nguy cơ nợ xấu cao hơn các doanh nghiệp khác. Ngược lại, khối ngân hàng thương mại cổ phần với đặc điểm hoạt động linh hoạt và đối tượng khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ và hoạt động ngân hàng bán lẻ đã dần chiếm lĩnh thị phần của khối ngân hàng thương mại nhà nước. Thị phần huy động tăng từ 17.4% vào năm 2010 trong khi thị phần cho vay tăng từ 16. Thị phần khối ngân hàng liên doanh và nước ngoài không có biến động nhiều chiếm khoảng 8.6% lần lượt cho thị phần huy động và cho vay vào năm 2010.
Tóm lại, ngành ngân hàng Việt Nam vẫn còn khá non trẻ và đang trong quá trình phát triển một cách nhanh chóng đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó, ngân hàng thương mại nhà nước vẫn nắm vai trò chủ đạo nhưng thị phần đang dần dần chuyển qua ngân hàng thương mại cổ phần cả về huy động vốn lẫn cho vay. Ngân hàng thương mại cổ phần có sự phát triển rất nhanh 10 chóng cả về số lượng lẫn quy mô nhưng vẫn còn nhiều ngân hàng có quy mô nhỏ, quản lý yếu kém vốn được thoát thai từ quỹ tín dụng nông thôn. Thêm vào đó, ngành ngân hàng vẫn còn đối diện với rất nhiều nguy cơ từ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản do phát triển quá nóng đến trình độ quản lý và nguồn nhân lực không theo kịp với tốc độ phát triển và do đó, khả năng chống đỡ đối với những cú sốc của thị trường là tương đối kém.
Khả năng sinh lợi của ngân hàng và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng 2. Khả năng sinh lợi của ngân hàng Ngân hàng thương mại có thể được coi là doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Do đó, khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững là một trong những mục tiêu chủ yếu của ngân hàng thương mại. Khả năng sinh lợi của ngân hàng là khả năng chống lại những tổn thất không mong đợi, cũng như là khả năng tăng cường năng lực tài chính và cải thiện khả năng sinh lợi trong tương lai thông qua tái đầu tư lợi nhuận giữ lại (ECB, 2010).
Khả năng sinh lợi thường được đo lường bằng tỷ số với mục đích khử ảnh hưởng của lạm phát (Rasiah, 2010). Các tỷ số thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi bao gồm ROA (tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản), ROE (tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu), NIM (thu nhập lãi ròng biên), NOM (thu nhập ngoài lãi ròng biên), EPS (thu nhập trên mỗi cổ phiếu), thu nhập hoạt động cận biên. ROA là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phân tích khả năng sinh lợi của ngân hàng. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý của ngân hàng, biểu thị cho khả năng biến tài sản thành lợi nhuận của ban lãnh đạo.
ROA cao cho thấy hoạt động của ngân hàng là hiệu quả với cơ cấu tài sản hợp lý và linh hoạt ngược lại ROA thấp phản ánh chính sách hoạt động không hiệu quả hoặc chi phí hoạt động quá mức. Trong khi đó, ROE là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông ngân hàng và phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Các chỉ tiêu NIM, NOM và thu nhập hoạt động cận biên cho thấy năng lực của ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của nguồn thu so với mức tăng của chi phí. 11 Ngoài ra, khả năng sinh lợi còn được đo lường bằng lợi nhuận kinh tế như chỉ số RAROC (tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh rủi ro trên vốn) hay EVA (giá trị kinh tế tăng thêm).
Những chỉ số này có tính đến rủi ro và chi phí cơ hội của nguồn vốn khi sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi.