CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CONG TAC QUAN TR] RUI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAIL 1.1, RUIL RO TIN DUNG TRONG HOAT DONG CUA NGAN HANG THUONG MAL 1. Khái niệm về rũi ro tín dụng, Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rat lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng. rủi ro hoạt động ngân hàng.
Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu nhập từ dich vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1⁄2 đến 2/3 tổng thu nhập ngân hàng (Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng. thương mại). Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh luôn tiềm ẩn nhiều rúi ro. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau vẻ rủi ro tín dụng: “Trong tác phim “Modern Banking” cia Shelagh Heffernan, rai ro tín dụng là rủi ro mà một tài sản hoặc một khoản vay không có khả năng thu hồi được hoàn toàn hoặc rủi ro về chậm trễ không mong đợi trong hoạt động cho vay [13] Còn theo Hennie van Greuning - Sonja Brajovic Bratanovie thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chỉ trả tiền lãi, hoặc. hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc. tính vốn có của hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tức là việc chỉ trả bị trì hoãn, hoặc tôi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự có đối với dòng. lưu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng [12] Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tôn that trong hoạt động. ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả.
năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Các định nghĩa về rủi ro tín dụng khá đa dạng nhưng chúng ta có thể tóm lại nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) xảy ra những tốn thất về mặt kinh tế cho các ngân hàng thương mại, là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng ¡ với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng thời hạn thanh toán nợ, cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên bản chất của rủi ro tín dụng cần được hiểu theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thê xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất.
Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ân. al rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xây ra. Phân loại rủi ro tín dụng 'Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tủy theo mục đích, yêu cầu.
Tủy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tin dụng thành nhiều loại khác nhau. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tin dụng được phân chia thành các loại sau đây: Ri ro tín dụng. Rủi ro Rui ro giao dịch danh mục. Rui ro Rủi ro Rủi ro Rũi ro nội Rui ro lựa chọn | | bảo đảm nghiệp vụ tại tập trung Rai ro giao dịch là một hình thức của rai ro tin dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tai trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho. vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thê đảm bảo.); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao. sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề). Rai ro đanh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào.
một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao). Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rui ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay. trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cí làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay. Đặc điểm của rủi ro tin dung Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm. của rủi ro tín dụng là rất cần thiết và hữu ích.
Rủi ro tín dụng có những đặc điểm co bản sau: ~ Rủi ro tín dung mang tinh gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời hạn nhất định theo. nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi nên những thất thoát về vốn xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng không thể trực tiếp kiểm soát tình hình sử. dụng vốn của khách hàng và thường không cập nhật kịp thời, đầy đủ những khó khăn và thất bại trong hoạt đông kinh doanh của khách hàng gây ra rủi ro tín dụng.
~ Rúi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điêm này biễu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tin dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phủ hợp. = Rui ro tín dụng có tính tắt yêu tức luôn tằn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: tình trạng thông tin không được cập nhật kịp thời, đầy đủ và chính xác đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện. Điều này làm cho bắt cứ khoản vay nào cũng tiềm ân rủi ro.
đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phủ. hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và.
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ân trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những. hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ từ năm 2007 đang. như một đám mây đen bao phủ nền kinh tế thế giới là một minh chứng sinh động.
cho hậu quả của rủi ro tín dụng. Thứ nhất, rủi ro tín dụng gây ra hậu quả nặng nẻ đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng. Khách hàng vay khi gặp rủi ro thì tình trạng kinh doanh bị sa sút, thậm chí có nguy cơ phá sản. Đối với ngân hàng, rủi ro tín dụng sẽ làm gia tăng chỉ phí (do phải trích dự phòng rủi ro để bù đắp), hạn chế mở rộng tín dụng vì sợ rủi ro khiến hiệu quả kinh doanh bị giảm sút.
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không có khả năng thu hồi vốn gốc và lãi vay trong khi vẫn phải thanh toán gốc và lãi cho các khoản huy động đến hạn, làm ngân hàng mắt cân đối thu chỉ. Nếu tỉnh trạng này kéo dài có thể đây ngân hàng vào tình trạng mắt khả năng chỉ trả hoặc có thể rơi vào tình trạng phá sản. “Thứ hai, rủi ro tin dụng sẽ làm giảm lòng tin của công chúng vào sự vững. chắc và lành mạnh của hệ thống tải chính cũng như hiệu lực của chính sách tài chính - tiền tệ của nhà nước.
Nguy cơ rút tiền Ö ạt của người gửi tiền có khả năng. trở thành hiện thực, do đó sẽ làm cho ngân hàng mắt khả năng thanh toán. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, doanh nghiệp không có vốn để đáp ứng các kế hoạch kinh doanh đã định nên có khả năng phải ngừng. hoạt động kinh doanh, người lao đông không được trả lương, đời sống sẽ thêm khó khăn.
Hơn nữa, sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn. bộ nên kinh tế.