CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIEM VE PHÁT TRIEN TIN DUNG DOI VOI HSSV CO HOAN CANH KHO KHAN 1. Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khan va vai trò của Chương trình tín dụng học sinh sinh viên 1. Nhận diện học sinh sinh viên cơ hoàn cảnh khó khăn Học sinh, sinh viên là khái niệm dùng để chỉ những người đang theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đăng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong số HSSV, có nhiều người đang phải sinh sOng trong những gia đình nghèo khổ, những gia đình thiếu thốn các điều kiện sống cơ bản, những gia đình không may gặp phải hoạn nạn, thiên tai., gọi chung là những sv có hoàn cảnh khó khăn.Theo Điều 2 của Quyết định số 157/2007/QD-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng C hính phủ, học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được xác định, gồm [54, tr.
I]: a) Học sinh, sinh viên m6 côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động. b) Học sinh, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: + Học sinh sinh viên là con hộ gia đình nghèo, cận nghèo. Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. Trong đó: - Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống đối với khu vực nông thôn và từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống đối với khu vực thành thị.
- Còn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị. + Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định của pháp luật. + Học sinh, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do rủi ro bắt thường như tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú. Vai trò của Chương trình tín dụng đối với HSSV có hoàn cảnh khó khăn 1.
Khái quát về Chương trình tin dụng đổi với học sinh sinh viên * Sự ra đời của Chương trình Thực hiện chủ trương “không để một HSSV nào vì khó khăn về tài chính phải bỏ học” của Chính phủ, vào tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 51/1998/QD- TTg về việc thành lập Quỹ tin dụng đào tạo với mục đích cho vay với lãi suất ưu đãi cho Học sinh sinh viên đang theo học ở các trường Đại học, cao đăng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề và giao cho Ngân hàng Công thương Việt Nam tô chức triển khai thực hiện chương trình. Khi mới thành lập, chương trình chỉ có vén vẹn 160 tỷ đồng, dư nợ cũng chỉ đạt mức thấp với 76 tỷ đồng, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn lại rất cao, tới 13%. Đến ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ- CP về tín dụng đối với hộ nghẻo và các đối tượng chính sách khác, bao gom cả đối tượng là Học sinh sinh viên đang theo học tại các trường Đại học, cao 10 đăng, trung học chuyên nghiệp và học nghề, đồng thời thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện nhiệm vụ cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong đó có đối tượng là Học sinh sinh viên và Ngân hàng Công thương cũng bàn giao toàn bộ quỹ tín dụng đào tạo sang cho Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Công thương chuyên tâm vào nhiệm vụ của ngân hàng thương mại. Chương trình tín dụng đối với HSSV là chương trình tín dụng ưu đãi, được NHCSXH tiếp nhận từ Ngân hàng Công thương Việt Nam từ năm 2003.
Từ khi chính thức đi vào hoạt động, tháng 3/2003 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 157/2007/QD-TTg quy định thêm về các điều kiện vay vốn, lãi suất cho vay,. nhằm tao điều kiện thuận lợi hon cho HSSV được tiếp cận vốn tín dụng. * Những qui định cua Chương trình Qui định về phạm vi, đối tượng được vay vốn + Phạm vi áp dụng: Khi nhận bàn giao quỹ tín dụng đào tạo từ Ngân hàng Công thương sang với tong nguồn vốn là 160 tỷ đồng và du nợ 76 tỷ đồng với số Học sinh sinh viên được vay vốn theo Quyết định này chỉ có đối tượng HSSV có học lực khá trở lên mới được vay và theo phương thức cho vay trực tiếp đối với học sinh sinh viên. Chương trình tín dụng Học sinh sinh viên được triển khai thực hiện từ năm 2006 theo Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 51/2005/QD - TTg về cho vay trực tiếp đối với Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, kết quả là đã nâng dư nợ cho vay lên 290 tỷ đồng.
Ngày 27/9/2007, Quyết định 157/2007/QD - TTg được ban hành thay thé Quyết định 107/2006/QD-TTg đã thay đổi điều kiện vay vốn, đối tượng thụ hưởng, phương thức cho vay thông qua hộ gia đình đã tạo điều kiện cho nhiều Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận được vốn vay. + Đối tượng được vay vốn: 11 Theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QD-TTg, ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với HSSV, đối tượng được vay vốn gồm: (1) HSSV mô côi cả cha lẫn mẹ hoặc chi mô côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động; (2) HSSV là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng sau: - HSSV là thành viên của hộ gia đình thuộc Hộ nghẻo theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật; - HSSV là thành viên của hộ gia đình thuộc Hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định của pháp luật; (3) HSSV mà gia đình gặp khó khăn về tài chính đo tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hoa hoạn, dịch bệnh; Qui định về phương thức cho vay Việc cho vay đối với Học sinh sinh viên được thực hiện theo phương thức cho vay thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ ngân hàng. Trường hợp Học sinh sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn tại Ngân hàng nơi nhà trường đóng trụ sở để thuận tiện theo đối dư nợ cho vay Học sinh sinh viên cũng như phát huy hiệu quả sử dụng vốn và thu hồi nợ.
Qui định về điều kiện vay vốn, mức cho vay, thời hạn cho vay và lãi suất cho vay. Điều kiện vay vốn: HSSV được vay vốn của chương trình khi có một trong các điều kiện sau: 12 + HSSV sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương nơi cho vay; + Đối với HSSV năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường; + Đối với HSSV năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu. Mức cho vay: + Mức vốn cho vay tối đa/tháng/học sinh được Thủ tướng Chính phủ quy định theo từng thời kỳ, năm 2013 là 1.000đồng/HSSV/tháng. + Hạn mức cho vay tối đa bang mức cho vay tôi đa/tháng/học sinh nhân với số tháng học trong năm và số năm học được vay vốn.
Thời hạn cho vay Thời hạn cho vay được xác định là khoảng thời gian được tính từ ngày người vay nhận món vay đầu tiên cho đến ngày trả hết nợ gốc và lãi được thỏa thuận trong Khé ước nhận nợ. Cu thé: Thời hạn cho vay = Thời hạn phát tiền vay + Thời gian tìm việc + Thời hạn trả nợ. Trong đó: + Thời hạn phát tiền vay: Là khoảng thời gian tính từ ngày người vay nhận món vay đầu tiên cho đến ngày học sinh sinh viên kết thúc khóa học. + Thời gian tìm việc làm: Không quá 12 tháng sau khi học sinh sinh viên kết thúc khóa học.
+ Thời hạn trả nợ: Đối với các chương trình đào tạo có thời gian đào tạo đến một năm, thời gian trả nợ tối đa bằng 2 lần thời hạn phát tiền vay. Đối với các chương trình dao tạo trên một năm, thời gian tra nợ tối đa băng thời hạn phát tiền vay. 13 Lãi suất cho vay Lãi suất cho vay thay đồi theo từng thời kỳ và do Thủ tướng Chính phủ quy định. Lãi suất cho vay hiện nay là 0,65%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất khi cho vay.
HSSV được vay vốn của chương trình tín dụng chính sách phải thực hiện đầy đủ thủ tục và quy trình theo quy định của văn bản 2162A/NHCS-TD ngày 02/10/2007 của Tổng giám đốc NHCSXH. Họ phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên khi HSSV có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng ké từ ngày HSSV kết thúc khoá học. Số tiền cho vay được phân kỳ trả nợ tôi đa 6 tháng 1 lần, phù hợp với khả năng trả nợ của người vay do Ngân hàng và người vay thoả thuận ghi vào Khế ước nhận nợ. Trường hợp người vay vốn cho nhiều HSSV cùng một lúc, nhưng thời hạn ra trường của từng HSSV khác nhau, thì việc định kỳ hạn trả nợ được thực hiện khi giải ngân SỐ tiền cho vay kỳ học cuối của HSSV ra trường sau cùng.
Lãi tiền vay được tính ké từ ngày người vay nhận món vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc. NHCSXH thoả thuận với người vay trả lãi theo định kỳ tháng hoặc quý trong thời hạn trả nợ. Trường hợp, HSSV có nhu cầu trả lãi theo định kỳ hàng tháng, quý trong thời hạn phát tiền vay thì NHCSXH thực hiện thu theo yêu cầu của người vay. Nhà nước cũng có chính sách giảm lãi suất đối với trường hợp HSSV trả nợ trước hạn.
Hướng dẫn cụ thê về giảm lãi để khuyến khích trả nợ trước hạn được thực hiện theo văn bản riêng của NHCSXH.