Chương 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự. Định nghĩa kê biên tài sản trong thi hành án dân sự: Theo từ điển bách khoa toàn thư thì định nghĩa kê biên tài sản được giải thích rất ngắn gọn: kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế của nhà nước đối với tài sản của người vi phạm để đảm bảo thi hành án. Nếu chỉ dừng lại ở định nghĩa kê biên tài sản thì định nghĩa kê biên tài sản được hiểu cả trong lĩnh vực hình sự. Đó là một biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà theo quy định của pháp luật có thể bị phạt tiền.
Đây là cách hiểu và giải thích gói gọn trong lĩnh vực kê biên tài sản thi hành án hình sự. Những năm trước đây, khoảng từ năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự chưa có sự phân biệt và định nghĩa rõ ràng về khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tài sản. Tài sản bị kê biên thường được xử lý để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án còn tài sản trong biện pháp tịch biên sẽ được xung công quỹ Nhà nước. Sau này theo quá trình phát triển của xã hội, pháp luật cũng được chú trọng để sửa đổi cho hợp lý hơn thì khái niệm kê biên tài sản đã được hiểu đúng bản chất.
Kê biên tài sản luôn gắn với một chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, không phải ai cũng có quyền kê biên tài sản của người khác, mà quá trình kê biên tài sản đòi hỏi phải được thực hiện thông qua những bước nghiêm ngặt, thể hiện quyền lực của Nhà nước thể hiện qua hành động của chấp hành viên được phân công thực hiện. Như vậy kê biên tài sản của người phải thi hành án dân sự là một biện pháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành án dân sự áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của tòa 5 án được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án chuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản. Đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự. Bất cứ một khái niệm thuật học nào cũng đều mang trong nó những đặc điểm để phân biệt giữa khái niệm này với khái niệm khác.
Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự cũng vậy, khái niệm kê biên luôn đi cùng với khái niệm cưỡng chế. Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiện để Nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước của mình. Kê biên tài sản được Nhà nước trao chocác cơ quan khác nhau thực hiện như: Thủ trưởng cơ quan điều tra công an, Thẩm phán tòa án nhân các cấp … trong đó có chấp hành viên cơ quan THADS. Sự khác biệt này được thể hiện ở những khía cạnh chính là chủ thể áp dụng kê biên và mục đích kê biên.
Ví dụ chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn xét xử là thẩm phán giải quyết vụ việc, chủ thể thực hiện kê biên trong giai đoạn thi hành án là do chấp hành viên. Về mục đích kê biên của các cơ quan điều tra và cơ quan tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành án, tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo, đương sự. Nhưng mục đích áp dụng biện pháp kê biên của các cơ quan hành chính và cơ quan THADS là ngoài mục đích như trên còn mục đích xử lý tài sản thanh toán trả tiền cho khoản tiền phạt, khoản thu cho ngân sách nhà nước và chủ nợ. Một số đặc điểm chính của Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự có thể nêu ra như sau: Một là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được thực hiện cũng bằng sức mạnh đặc biệt của Nhà nước.
Trên thực tế cũng như quy định của pháp luật, việc cưỡng chế thi hành án phải do cơ quan nhà nước có thểm quyền thực hiện. Theo đó, người được thi hành án không có quyền tự mình dùng sức mạnh để buộc người có nghĩa vụ thi hành án (người phải thi hành án) thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án. 6 Theo quy định trong Luật thi hành án dân sự thì Nhà nước ta trao quyền năng này cho Chấp hành viên, người của cơ quan thi hành án dân sự. Do đó, khi cần thiết phải sử dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì chỉ có CHV mới có quyền ban hành những quyết định có liên quan tới việc thi hành án, lựa chọn biện pháp để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án.
Hai là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc buộc họ thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án. Dân sự luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các đương sự, do vậy trong thi hành án dân sự, các bên có quyền tự định đoạt nên nhà nước luôn ưu tiền cho các bên tự nguyện thi hành án trước khi người được thi hành án có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc áp dụng các biện pháp để thi hành được bản án, quyêt định đó. Tuy nhiên trên thực tế, việc người phải thi hành án tự nguyện thi hành bản án, quyết định là rất ít khi xảy ra. Do vậy mới có biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án, để áp dụng cho những người không tự nguyện thi hành án.
Đây được xem là bước đi cuối cùng để có thể đảm bảo thi hành án được theo đúng bản án, quyết định đã tuyên, bước cuối cùng nhưng đem lại được sự hài hòa và lợi ích chính đáng cho người được thi hành án. Ba là, đối tượng của biện pháp kê biên tài sản thi hành án dân sự chính là tài sản của người phải thi hành án. Khác với hình sự mục đích của các biện pháp hình sự mang tính trừng phạt là chủ yếu, nhưng với dân sự, trong thi hành án việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản chỉ hướng tới mục đích yêu cầu hay buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thi hành án. Bốn là, khia áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự thì người phải thi hành án ngoài việc phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án, 7 quyết định của Tòa án thì còn phải chịu những chi phí khác phát sinh trong quá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án.
Những chi phí nêu trên có thể kể tới như chi phí để trả cho các cơ quan liên quan trong quá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án, trong đó có ủy ban cấp xã, cơ quan công an thực hiện việc đảm bảo an ninh cho công tác thi hành án, hoặc chi phí để bảo vệ tài sản, chi phí định giá tài sản, xác minh những vấn đề liên quan tới tài sản thi hành án… Năm là, biện pháp kê biên tài sản trong THADS thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Biện pháp kê biên tài sản THADS được CHV quyết định áp dụng không chỉ có hiệu lực đối với người phải thi hành án, người được thi hành án mà còn tác động tới các cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan khác. Đây là biện pháp thể hiện quyền lực của Nhà nước nên mọi quyết định của CHV đều phải được các chủ thể liên quan nghiêm túc chấp hành để đảm bảo tính thượng tôn pháp luật và công tác thi hành án được thực hiện đúng, đủ, nhanh chóng. Phân loại kê biên tài sản trong THADS.
Theo quy định của pháp luật thì CHV chỉ được kê biên tài sản của người phải THA tương ứng với phần nghĩa vụ của họ đối với nghĩa vụ THA và các chi phí hợp lý phát sinh khác trong quá trình tố tụng. Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản sẽ có những tác động trực tiếp vào những người sau: Người được THA, người phải THA và người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Trong các đối tượng trên, đối tượng liên quan mật thiết, chặt chẽ tới hoạt động THA phải kể tới đó là tài sản bảo đảm kê biên. Tài sản này có thể là động sản hoặc bất động sản, nhưng nó buộc phải đảm bảo điều kiện về sở hữu của người phải thi hành án, không phụ thuộc vào thực tế ai đang là người quản lý sử dụng.
Miễn tài sản đó là của người phải thi hành án. Việc này đảm bảo được nguyên tắc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ bằng chính tài sản của mình. Tài sản kê biên phải tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan. Trong trường hợp đặc biệt 8 mà tài sản kê biên lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án thì phải xác định rõ phần nghĩa vụ cụ thể, phần còn lại nằm ngoài nghĩa vụ thì phải xem xét trao trả cho người phải thi hành án.
Pháp luật về THADS liệt kê các loại tài sản kê biên như sau: - Một là kê biên tài sản thuộc sở hữu chung: Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: “1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.” Điểm mới trong quy định của Luật THADS năm 2014 là phân định rõ trường hợp sở hữu chung thành hai loại: Sở hữu chung của vợ chồng; và sở hữu chung ở hình thức khác, từ đó chấp hành viên dễ dàng lựa chọn cách thức giải quyết việc kê biên tài sản. Đồng thời Luật còn cho phép chủ sở hữu chung được quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình, điều này thể hiện tính dân chủ trong quá trình giải quyết, bảo vệ quyền lợi của các đồng sở hữu.