Chương 1, nghiên cứu đã nêu rõ tính cấp thiết của nghiên cứu cũng như các nội dung khác có liên quan như mục tiêu, câu hỏi của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI RỦI RO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Nội dung của Chương 2 sẽ làm rõ các vấn đề: (i) Cơ sở lý luận về tăng trưởng tín dụng, rủi ro các các ngân hàng thương mại và thu nhập lãi; (ii) Tổng quan các nghiên cứu trước đây và (iii) Tác động của tăng trưởng tín dụng đối với rủi ro các ngân hàng thương mại. Cơ sở lý luận về tín dụng và tăng trưởng tín dụng Diamond (1984), Bhattacharya và Thakor (1993) đưa ra kết luận là trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hoạt động tín dụng đại diện cho một phần chức năng cốt lõi của hoạt động ngân hàng và không thể tách rời. Levine (2002) đã nêu rõ vai trò hệ thống tài chính ngân hàng.
Hầu hết các khoản tiền cần thiết để đầu tư được chuyển từ các hộ gia đình sang các doanh nghiệp thông qua các tổ chức tài chính trung gian. Ví dụ: Kế hoạch tăng trưởng tín dụng của chính phủ cả năm là khoảng 21-22%. Tín dụng là khoản tiền mà bên A cho bên B vay. Ở đây bên A là các ngân hàng thương mại, còn bên B là cá nhân và doanh nghiệp.
Tăng trưởng tín dụng tăng 20% có nghĩa là tổng dư nợ cho vay khách hàng của toàn hệ thống ngân hàng năm nay sẽ cao hơn so với năm trước là 20%. Thông tư số 36 quy định về dư nợ tín dụng: Hàng năm ngân hàng nhà nước sẽ đưa ra hạn mức dư nợ tín dụng của mỗi ngân hàng tùy thuộc vào quy mô và uy tín của ngân hàng đó. Hạn mức là cách ấn định cứng số tiền được cho vay ra bên cạnh các công cụ điều tiết cung tiền khác như điều chỉnh trần lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu,. Ví dụ một NHTM năm 2016 có tổng số tiền cho vay ra từ 1/1/2016 tới 31/12/2016 là 1000 tỷ và nếu như NHNN quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng là 10% cho năm 2017 thì năm 2017 ngân hàng không được cho vay vượt quá 1,100 tỷ.
NHTM sẽ căn cứ vào hạn mức này mà tự động điều chỉnh số tiền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cho vay ra trong cả năm. Giả sử như NHNN không quy định về con số tăng trưởng tín dụng hàng năm thì NHTM để tối đa hóa lợi nhuận họ sẽ tăng số tiền cho vay ra tới vô cùng. Chỉ cần chênh lệch giữa huy động và cho vay một chút xíu thôi nhưng khi tăng tổng cho vay tới vô cùng thì họ sẽ có lợi nhuận tăng vô cùng. Điều này tất yếu dẫn tới việc cho vay dưới chuẩn dẫn tới nợ xấu ngân hàng.
Một ngân hàng có dư nợ tín dụng cao không hẳn là ngân hàng có năng lực tốt. Một ngân hàng nhỏ tăng thêm 1% thì dễ hơn nhiều so với một ngân hàng lớn. Cũng giống như để tăng 1% GDP của Mỹ sẽ phức tạp hơn nhiều so với tăng 1% GDP của Việt Nam. Một ngân hàng muốn cho vay khách hàng được thì lãi suất cho khoản vay đó phải thấp hơn ngân hàng khác trong khi các điều kiện ràng buộc lại phải thoáng hơn.
Ngân hàng càng nhỏ, thương hiệu càng kém thì càng phải cố gắng để bán được hàng nhiều hơn. Bản chất của tăng dư nợ tín dụng: Giả sử bạn vay ngân hàng 100 triệu để mua một căn chung cư cao cấp với chủ đầu tư là công ty Y. Bạn thanh toán cho công ty Y 100 triệu và nhận căn nhà. 100 triệu đó được thể hiện trong tài khoản của công ty Y tại ngân hàng.
Giả sử như bạn vay 100 triệu của ngân hàng X và chuyển khoản vào tài khoản của công ty Y cũng tại ngân hàng X thì thực tế tiền của ngân hàng X chẳng đi đâu cả. Ngân hàng X ghi tăng tài khoản của công ty Y thêm 100 triệu và có một khoản nợ 100 triệu cần thu hồi từ bạn. Tiền của công ty Y gửi tại ngân hàng, công ty Y có thể rút ra trả các nhà cung cấp (nhà cung cấp cũng sẽ gửi tại một ngân hàng nào đó), còn lại tiền sẽ được gửi dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn. 100 triệu nhờ có bạn mà đã được sinh ra.
Tăng dư nợ tín dụng không hẳn là trùng với tăng cung tiền M2 (tiền gửi tiết kiệm) nhưng có mối liên quan nhân quả với nhau: Vấn đề lớn ở đây là tiền sẽ chảy về đâu cho hiệu quả? Ta phải quay lại mục đích của chính phủ khi tăng dư nợ tín dụng đó là nhằm mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm là 6. 6 tháng đầu năm GDP mới chỉ đạt 5.73% vì vậy muốn đạt được mục tiêu thì phải có các giải pháp nhằm tăng GDP LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lên mức 7.42% vào 6 tháng cuối năm. Một trong các giải pháp đó là tăng dư nợ tín dụng. Ngoài xu hướng và cấu trúc các thành phần kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngân hàng theo cách như nhau, có nhiều lý do quan trọng khiến các ngân hàng tăng cường hoạt động cho vay.
Ví dụ, các ngân hàng có ý định nắm bắt các cơ hội cho vay mới, mở rộng sang các thị trường địa lý mới hoặc giành thị phần với các sản phẩm và thị trường hiện có. Hơn nữa, cơ chế tiềm năng để tăng cho vay là giảm lãi suất hoặc yêu cầu ký quỹ thấp đi, nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng hoặc kết hợp cả hai (ví dụ: Dell'Ariccia và Marquez, 2006; Ogura, 2006). Ngoài ra, một số ngân hàng còn phụ thuộc vào tăng trưởng nội bộ nhưng một số ngân hàng khác tuân theo chiến lược tăng trưởng bên ngoài bằng cách sáp nhập và mua lại (M & A). Để để có thể nhận thấy rõ nét hơn về tác động của tăng trưởng tín dụng, bài viết sẽ phân tích về tác động của tăng trưởng tín dụng bất thường.
Foos và cộng sự (2010), Amador và cộng sự (2013) và Han (2016) đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm về một hình thức của tăng trưởng tín dụng đó là tăng trưởng tín dụng bất thường (ALG), và được đo lường là sự chênh lệch giữa tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của một tổ chức tín dụng và trung vị tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của tất cả các tổ chức tín dụng trong một năm: Với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng (LGi,t): LGi,t = (TLi,t – TLi,t-1)/TLi,t-1 (2.1) Trong đó: TLi,t và TLi,t-1 lần lượt là tổng dư nợ cho vay khách hàng năm t và nă, t-1. Ta có: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bất thường (ALGi,t): 𝐴𝐿𝐺𝑖, 𝑡 = 𝐿𝐺𝑖, 𝑡 - 𝑀𝑒𝑑𝑖𝑎𝑛 𝑎𝑔𝑔𝑟𝑒𝑔𝑎𝑡𝑒 𝐿𝐺𝑐, 𝑡 (2.2) Trong đó: Median aggregate LGc,t là điểm trung vị cho một tập hợp dữ liệu được sắp xếp theo thứ tự độ lớn và ít bị ảnh hưởng bởi các ngoại lệ và dữ liệu sai lệch. Lý do trung bình đã được sử dụng thay vì trung bình là một số tổ chức tín dụng có tỷ lệ tăng trưởng cho vay rất cao hoặc thấp (UCLA (2015)). Ví dụ, tỷ lệ tăng trưởng cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vay quan sát lớn nhất là khoảng 300%, và giá trị thấp nhất là -46%.
Vì dữ liệu không phân bổ đối xứng xung quanh một giá trị được quan sát thông thường, sử dụng mức trung bình có thể bóp méo việc phân phối dữ liệu và giá trị trung bình của dữ liệu có thể không phản ánh chính xác mức tăng trưởng tín dụng thông thường của tổ chức tín dụng. Theo thông tư 21, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài xác định số dư nợ tín dụng để tính tăng trưởng tín dụng gồm có: cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác, cho thuê tài chính, bao thanh toán, các khoản trả thay cá nhân, tổ chức trong trường hợp cá nhân, tổ chức được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của mình khi đến hạn thanh toán các nghiệp vụ cấp tín dụng khác được NHNN chấp thuận. Rủi ro của các ngân hàng Ở mục này tác giả sẽ làm rõ chủ yếu về rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng Quyết định 493 Ngân hàng Nhà nước: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Thông tư 02 Ngân hàng Nhà nước: Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Nguyễn Thường Lạng (2017) cho rằng các loại rủi ro có liên quan đến các ngân hàng thương mại Việt Nam thường là rủi ro nợ xấu, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp. Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN nêu rõ: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2001) chỉ ra rằng: Đối với lĩnh vực ngân hàng, rủi ro tín dụng được đánh giá là rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất và là một phần cố hữu của các hoạt động kinh doanh cốt lõi của ngân hàng.
• Đo lường rủi ro tín dụng Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quyết định 493/2005/QĐ – NHNN: Thứ nhất, về phương pháp đo lường gồm có: phương pháp định lượng và phương pháp định tính.