CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh thị trường tài chính còn diễn biến phức tạp sau khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới 2008 -2010, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang đứng trước những thách thức và cơ hội rất lớn. Sự đổi mới hướng đầu tư của các NHTM để phù hợp với tình hình kinh tế cụ thể và gia tăng nguồn thu của mình là bước đi cần thiết và quan trọng.
Phát triển dịch vụ phi tín dụng là một lựa chọn thông minh trong bối cảnh hoạt động tín dụng có quá nhiều rủi ro, nguồn thu từ tín dụng còn rất bấp bên. Tuy nhiên, thực tế để phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các ngân hàng cũng không đơn giản. Ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 254/QĐ-TTg V/v Phê duyệt đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015, theo đó Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng. Cho thấy rằng, chúng ta đã nhận thức được vai trò của dịch vụ phi tín dụng trong việc mang lại nguồn thu ổn định, an toàn hơn cho các ngân hàng thương mại.
Đồng thời, sự phát triển dịch vụ phi tín dụng có vai trò rất quan trọng, quyết định sự tồn tại của một ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Song cho đến nay, mảng dịch vụ phi tín dụng tại các ngân còn đơn điệu về hình thức, chất lượng chưa cao, quy mô dịch vụ nhỏ, sức cạnh tranh còn hạn chế; việc xây dựng chiến lược rõ ràng cho phát triển dịch vụ phi tín dụng chưa được chú trọng, mà thường lồng ghép vào chiến lược phát triển chung của ngân hàng; Trình độ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển các dịch vụ phi tín dụng ứng dụng công nghệ cao như: giao dịch các công cụ phái sinh, ngân hàng điện tử, ủy thác. còn chưa được phát huy tối đa để đem lại hiệu quả tương xứng với năng lực và lợi thế; bên cạnh đó thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam cũng là một trở ngại lớn trong việc phát triển mạng lưới thẻ nói riêng và dịch vụ phi tín dụng nói chung của ngân hàng. Kết quả là nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng của các ngân hàng trong những năm gần đây dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn khiêm tốn.
Vậy giải pháp nào để pháp triển dịch vụ phi tín dụng thực sự hiệu quả cho các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các NHTMCP ngoài quốc doanh? 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi phát triển các hoạt động tạo TNNL như kinh doanh, đầu tư, các hoạt động dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử,. thì NHTM sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng. Do vậy, giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho ngân hàng. Mở rộng các hoạt động ngoài lãi còn giúp ngân hàng phân tán và giảm rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Tỷ lệ TNNL càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền 2010). Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của TNNL đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Theo Klein và Saidenberg (1997), việc kết hợp các dịch vụ ngân hàng sẽ tạo ra thu nhập ổn định, tối ưu hóa chi phí quản lý và đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng; các ngân hàng với hoạt động kinh doanh phi lãi làm giảm sự biến động của lợi nhuận Chiorazzo và ctg (2008).
Đối với các NHTM Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lê Long Hậu, Phạm Xuân Quỳnh (2016) và Nguyễn Minh Sáng, Nguyễn Thị Thùy Trang (2018) đều cho thấy đa dạng hóa thu nhập, tăng tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi là có lợi cho các NHTM Việt Nam vì giúp gia tăng hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào cho thấy tác động cụ thể của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh, đồng thời có xem xét đến yếu tố hình thức sở hữu vốn của các NHTM tại Việt Nam. Dựa trên nền tảng các nghiên cứu trước tại Việt Nam, tác giải đã lựa chọn đề tài “Tác động của các nguồn thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam” để nghiên cứu nhằm tiếp tục phân tích mức độ tác động trực tiếp các nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam, đồng thời có xem xét đến yếu tố sở hữu vốn của các NHTM. Mục tiêu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Luận văn hướng đến giải quyết mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số gợi ý chính sách đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn hướng đến giải quyết các mục tiêu cụ thể: - Đo lường mức độ tác động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018. So sánh sự khác biệt giữa các nhóm NHTM có hình thức sở hữu khác nhau.
- Đề xuất một số gợi ý chính sách đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam trong thời gian tới. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn hướng đến giải quyết các câu hỏi: - Mức độ tác động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018? Có sự khác biệt về mức độ tác động giữa các nhóm NHTM có hình thức sở hữu khác nhau hay không? - Trong thời gian tới, cần có những thay đổi chính sách, định hướng như thế nào đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng để gia tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam? 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Mức độ tác động của từng nguồn TNNL và các yếu tố khác đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên số liệu của 29 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2018, đây là giai đoạn kể từ sau khi Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 V/v Phê duyệt Đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 có hiệu lực đến nay.
Tổng quan về phương pháp nghiên cứu Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích dữ liệu bảng thu thập được để tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Từ kết quả phân tích dữ liệu thu được, lý giải và đưa ra những kiến nghị phù hợp với thực trạng tại 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam. Mô hình hồi quy dữ liệu bảng được thực hiện với sự hỗ trợ của phần mềm kinh tế lượng STATA. Do đặc điểm của bộ dữ liệu bảng (Panel Data) bao gồm các quan sát chéo và quan sát theo thời gian nên tác giả sử dụng lần lượt các phương pháp Pooled-OLS (hồi quy kết hợp tất cả các quan sát); FEM (kết hợp giữa OLS và biến giả) với tung độ góc biến đổi theo từng đơn vị chéo; và phương pháp REM với giả đinh sự khác biệt về các điêu kiện đặc thù của các đơn vị chéo đều chứa đựng trong phần sai số ngẫu nhiên.
Sau đó sẽ dùng các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp nhất với bộ dữ liệu nghiên cứu dùng để làm kết quả nghiên cứu cuối cùng. Trong quá trình hồi quy dữ liệu dạng bảng với số cá thể quan sát lớn trong chuỗi thời gian ngắn thường phát sinh hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan và rất khó khắc phục, khi đó các ước lượng Pooled OLS hay FEM và REM không còn hiệu quả. Để giải quyết vấn đề trên, theo Wooldridge (2002) có thể sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (General Least Square – GLS) để khắc phục hiện tường phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan nhằm đảm bảo ước lượng thu được vững và hiệu quả. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu không cân đối (unbalance) để hồi quy và kiểm định mô hình, được thu thập từ báo cáo thường niên, BCTC của 29 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 -2018.
Dữ liệu được thu thập trên website của các NHTM, các dữ liệu công bố của các NHTM tại các website của các công ty chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước và các chỉ số kinh tế vĩ mô thu thập từ Tổng cục thống kê Việt Nam. Trong đó, số lượng năm quan sát của các Ngân hàng không bằng nhau do không thu thập được dữ liệu những năm đó. Do số lượng các NHTM tại Việt Nam khá lớn, đồng thời do điều kiện minh bạch thông tin tại Việt Nam còn khá hạn chế nên nhiều NHTM không công bố BCTC hoặc công bố không đầy đủ, nghiên cứu tiến hành lấy mẫu dữ liệu gồm 29 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2018, trong đó gồm 4 ngân hàng lớn có vốn nhà nước chi phối, 22 ngân hàng của tư nhân và 3 ngân hàng do nước ngoài chi phối điều hành. Những đóng góp của đề tài Đề tài góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả kinh doanh và sự tác động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam trên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ sở nghiên cứu có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các tác của công trình nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện trước đây.
Điểm mới và khác biệt của luận văn so với các nghiên cứu trước ở Việt Nam là có xem xét đến mức độ tác động cụ thể của từng nguồn TNNL đối với các nhóm NHTM có sở hữu vốn khác nhau đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam.