Chương 1, trên cơ sở khai thác số liệu từ những nguồn đáng tin cậy tác giả đi sâu phân tích thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng Thương mại trong giai đoạn 2006 -2015. Qua đó tác giả đánh giá được những tác động tích cực cũng như tiêu cực của sở hữu chéo đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam làm cơ sở đề xuất những giải pháp khả thi để xử lý vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng Thương mại. Chương 3: Một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Luận văn đề xuất những giải pháp khả thi góp phần xử lý vấn đề sở hữu chéo cũng như những kiến nghị đối với các đơn vị chủ quản trong việc quản lý, điều hành hệ thống Ngân hàng Thương mại nhằm hạn chế tác động tiêu cực và góp phần lành mạnh hóa hoạt động của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam trong giai đoạn tới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đóng góp của đề tài Với những mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn kỳ vọng sẽ mang lại một số đóng góp về mặt học thuật cũng như thực tiễn: Một là: về mặt học thuật, luận văn đưa ra cơ sở lý thuyết về sở hữu chéo, những nguyên nhân và hình thức tồn tại của vấn đề sở hữu chéo. Hai là: về mặt thực tiễn, với những phân tích cụ thể, luận văn đưa ra bức tranh toàn cảnh về các mối quan hệ nhập nhằng đường sau cấu trúc vốn của các Ngân hàng thương mại, đánh giá tác động hai mặt của sở hữu chéo đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Những phân tích này là cơ sở để luận văn đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm hạn chế tác động tiêu cực của SHC đến hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Cùng trăn trở với tác giả về vấn đề “Sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” cũng đã có một số nghiên cứu tiêu biểu: Tác giả Đào Duy Tiên, “Sở hữu chéo ngân hàng thương mại tại Việt Nam và những tác động đến hoạt động ngân hàng”, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng số 130 năm 2013, tác giả đã đưa ra cơ sở lý thuyết về sở hữu chéo đồng thời phân tích thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trên cơ sở phân tích những số liệu thu thập được từ các báo cáo tài chính của một số Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả Thu Hằng, “Sở hữu chéo ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng - Kinh nghiệm của nƣớc Ý”, Tạp chí Ngân hàng số 23 tháng 12/2013, tác giả nêu ra bối cảnh hình thành nên ma trận sở hữu chéo tại nước ý, những tác động của sở hữu chéo đến sự cạnh tranh giữa Ngân hàng có sở hữu chéo và Ngân hàng không có sở hữu chéo thông qua phương pháp Panzar-Rose (phân tích chỉ số cạnh tranh). Kết quả phân tích của tác giả cho thấy sở hữu chéo là một nhân tố hạn chế năng lực cạnh tranh trong khu vực Ngân hàng, từ đó tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng thương mại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xix Tác giả Nguyễn Khánh Hà: “Tác động của sở hữu chéo đến của hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế.
Luận văn tập trung thể hiện được ma trận sở hữu vốn giữa các Ngân hàng và các cổ đông của một nhóm Ngân hàng Thương mại cổ phần, tuy nhiên chưa đánh giá hết được tác động của nó đến hoạt động của từng Ngân hàng trong nhóm Ngân hàng nói trên. Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Diễm: “Sở hữu chéo tác động đến hoạt động của các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ kinh tế. Tác giả luận văn nêu ra những khái niệm chắc chắn về sở hữu chéo đồng thời đánh giá được những tác động tiêu cực của sở hữu chéo đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tuy nhiên luận văn chưa giải quyết dứt điểm được mục tiêu cuối cùng đã đặt ra đó là đề xuất được những giải pháp khả thi nhằm giải quyết vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thông qua việc tham khảo một cách có chọn lọc các thông tin từ các công trình nghiên cứu trên, cùng với gợi mở tận tình của người hướng dẫn khoa học và kiến thức thực tiễn của bản thân về vấn đề sở hữu chéo là những cơ sở quan trọng để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này. Mặc dù đã có một số nghiên cứu về vấn đề sở hữu chéo như trên, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào giải quyết dứt điểm mục tiêu cuối cùng là hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo. Vì vậy, trong nghiên cứu của mình tác giả đi sâu làm rõ cơ sở lý thuyết về vấn đề sở hữu chéo; mổ xẻ tận gốc nguyên nhân hình thành nên sở hữu chéo; mô tả bức tranh toàn cảnh về vấn đề sở hữu vốn nhập nhằng giữa một số Ngân hàng thương mại Việt Nam và các cổ đông của họ giai đoạn 2006-2015; đánh giá tác động toàn diện của sở hữu chéo đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể, thực tiễn và có tính khả thi cao góp phần hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Vì vậy, những nội dung nghiên cứu của đề tài là không trùng lắp với những nghiên cứu đã có trước đây.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ SỞ HỮU CHÉO VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT SỞ HỮU CHÉO NGÂN HÀNG Sở hữu chéo (cross ownership) là một thuộc tính kinh tế khách quan đã xuất hiện trong quá trình phát triển tại nhiều nền kinh tế trên thế giới từ lâu. SHC là một hiện tượng phổ biến ở nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới như Nhật Bản, Ý, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia và nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, ở Việt Nam, SHC nói chung và SHC trong hệ thống ngân hàng nói riêng, mới được chú ý trong khoảng từ năm 2006 trở lại đây.
Khái niệm sở hữu chéo SHC là một hiện tượng phổ biến trên thế giới và là chủ đề nghiên cứu trong giới học thuật, được giới thiệu như là một chiến lược quản trị doanh nghiệp. Nghiên cứu về SHC từ góc độ của doanh nghiệp, ngân hàng và các nhà nghiên cứu về nội dung còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên thế giới, khái niệm về SHC đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa về sở hữu và có thể hiểu đơn giản là hiện tượng DN này nắm giữ cổ phần tại DN khác. Một số các nhà kinh tế học trên thế giới đưa ra khái niệm về SHC.
SHC có thể hiểu đơn giản là việc các tổ chức nắm giữ cổ phần lẫn nhau. Chẳng hạn như công ty A đầu tư vào công ty B và công ty B cũng đầu tư ngược lại vào công ty A. SHC khác với mở rộng sở hữu, là việc cho phép nhiều đối tượng, nhiều thành phần kinh tế cùng nắm giữ vốn của một đơn vị. Theo Junning Cai và Jiameng (2008).
Mối liên kết chéo giữa các công ty thường được đo bằng tỷ lệ “nắm giữ cổ phần chéo” được định nghĩa là giá trị nắm giữ cổ phiếu của công ty này so với tổng cổ phần của công ty kia. Công thức này giúp xác định mức độ SHC của công ty nhưng chưa phản ánh được sự phức tạp của mạng lưới SHC. và Alessia (2009) định nghĩa: “Sở hữu chéo là việc các DN bao gồm cả công nghiệp và tài chính nắm giữ cổ phần dài hạn tại các DN khác” Mark Scher (2001) nhận định: “SHC là việc hai DN nắm giữ cổ phần của nhau. Các DN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 có thể cùng ngành, có thể là nhà cung cấp và khách hàng, hoặc là chủ nợ với con nợ”.
Tác giả Đinh Tuấn Minh (2013) định nghĩa “SHC là hiện tượng DN này chiếm giữ cổ phần tại DN khác”. Hoặc có thể hiểu: SHC là 2 hoặc nhiều tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau. Sở hữu chéo là các khoản đầu tư tài chính do các định chế tài chính hoặc các doanh nghiệp thực hiện để sở hữu chéo vốn của nhau. Tùy từng điều kiện, SHC rất đa dạng khi kết hợp mọi thành phần tham gia kinh tế: ngân hàng - doanh nghiệp sản xuất - công ty bảo hiểm - các quỹ đầu tư,.
Nhưng trong nhiều mối quan hệ chằng chịt đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là nổi bật hơn cả. Qua những ý kiến của các nhà nghiên cứu trên, có thể rút ra những nội dung cơ bản của SHC như sau: SHC là việc một hoặc nhiều nhóm công ty tham gia sở hữu một hoặc một nhóm công ty khác thông qua việc nắm giữ phần vốn của nhau (vốn cổ phần, chứng khoán vốn) để có ảnh hưởng quyết định hoặc khả năng kiểm soát đối với nhau. SHC là mối quan hệ phức tạp và có nhiều dạng thức khác nhau. Một cách khái quát, SHC là khái niệm để chỉ một hiện tượng xảy ra khi công ty A nắm giữ cổ phần của công ty B mà công ty B này cũng đang nắm giữ cổ phần tại công ty A.
Khái niệm SHC cũng thường được dùng để chỉ hiện tượng một cá nhân hay tổ chức cùng lúc sở hữu cổ phần trọng yếu và nắm quyền quản trị điều hành tại nhiều đơn vị kinh doanh khác nhau. Nội dung quan trọng nhất của SHC giữa các DN cả NH) là tạo ra mối liên kết hàng ngang giữa các công ty làm ăn với nhau bằng phương thức xâm nhập sâu vào hoạt động kinh doanh, quản trị điều hành của nhau thông qua việc mua cổ phần của đối tác. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sở hữu chéo ngân hàng Đặc điểm hoạt động kinh doanh ngân hàng là tiền tệ, có sự khác biệt với hoạt động của các DN trong các lĩnh vực kinh doanh khác.