CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Đây là khoản mục rất quan trọng vì nó thu hút hầu hết các nguồn vốn của ngân hàng (60-75%) mang lại 2/3 tổng thu nhập cho ngân hàng và là khoản mục chứa đựng rất nhiều rủi ro, qua đó có thể đánh giá được trình độ và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng ngân hàng “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả ñược nợ hoặc trả nợ không ñúng hạn cho ngân hàng”. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì rủi ro tín dụng lại được hiểu là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng ñối với một ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn”. Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng 1. Khái niệm về nợ xấu Quan điểm về nợ xấu khác nhau đối với mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế và mỗi góc nhìn của các chủ thể.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 * Theo Ngân hàng Thế giới (WB): Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản (Ngân hàng Thế giới 2002). * Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB): Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ để đòi bồi thường từ người mắc nợ. - Người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ. - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách hàng đã chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. (Ngân hàng Trung ương Châu Âu 2001) * Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không thu hồi đầy đủ cho ngân hàng: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ. Ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì người mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi được đầy đủ. Những loại nợ này gồm có: - Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể trả tất cho khoản nợ, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 được phát mãi để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng.
- Những khoản nợ mà người mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu được gia hạn nợ nhưng không trả được nợ trong thời gian gia hạn nợ đã thỏa thuận. - Những khoản nợ mà giá trị tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở ngân hàng không đảm bảo về mặt pháp lý dẫn đến người mắc nợ không thể phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ Ngân hàng. - Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ. Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa theo hai yếu tố là khoản vay không có khả năng được thu hồi và mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ.
Như vậy, quan điểm về nợ xấu của ECB được tiếp cận dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. * Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Một khoản cho vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (IMF 2005). Nợ xấu theo quan điểm của IMF dựa trên hai yếu tố là quá hạn trên 90 ngày hoặc khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Như vậy, so với quan điểm của ECB thì quan điểm về nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng nhưng có thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 * Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS): Ủy ban Basel xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Như vậy nợ xấu là bao gồm toàn bộ các khoản cho vay mà người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ trong tương lai hoặc các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ (Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng 2005). * Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV): Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước ngày 21/01/2013 về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu là các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.
Nguyên nhân của nợ xấu Phân tích nguyên nhân nợ xấu là một trong những điểm quan trọng cần phải làm để từ đó đưa ra được những chiến lược cũng như phương pháp quản lý và xử lý phù hợp, khả thi và có hiệu quả đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nguyên nhân khách quan * Khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Nhóm nguyên nhân bất khả kháng đối với khách hàng như: thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, biến động thị trường, thay đổi lãi suất, tỷ giá, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực, biến động chính trị và những thay đổi về chính sách vĩ mô ở nước khách hàng. * Môi trường pháp lý chưa đầy đủ Kẻ hở trong luật sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tìm cách lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng, chây ỳ không trả nợ hoặc gây khó khăn cho quá trình xử lý nợ xấu của ngân hàng. Kinh tế thị trường ngày càng phát triển, nhiều lĩnh vực ngành nghề Luật còn chưa đề cập tới hoặc còn đang dự thảo nên gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng.
Nhiều luật còn chồng chéo không thống nhất dẫn đến gây tranh cãi khiến các cơ quan có thẩm quyền đứng ra xét xử còn lúng túng, mỗi nơi có hướng giải quyết khác nhau. * Các khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủ Chính phủ của mỗi quốc gia sẽ chỉ định Ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay để thực hiện chính sách phát triển của đất nước. Hầu hết các khoản cho vay này các NHTM không đủ cơ sở để tự quyết định cho vay hoặc quá thẩm quyền phán quyết. Chính vì vậy khoản cho vay này có hiệu quả thấp, độ rủi ro cao và khả năng đảm bảo cho khoản vay của khách hàng rất hạn chế.
Nguyên nhân chủ quan * Sự quản lý yếu kém của ngân hàng Thứ nhất là do xuất phát từ việc nhận biết và đo lường nợ xấu chưa chính xác: chủ yếu chỉ đánh giá và đo lường rủi ro theo phương pháp đo lường rủi ro định tính trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng (RRTD), mặc dù đã bắt đầu tiếp cận theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 các nội dung đo lường RRTD của Basel I và II nhưng các ngân hàng vẫn chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ các nội dung này. Thứ hai là do hạn chế trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng: chỉ hoàn toàn dựa vào hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ của chính các ngân hàng và sự giám sát bên ngoài của NHNN mà không có sự giám sát của các cơ quan kiểm toán bên ngoài hay sự giám sát của thị trường. Việc duy trì mô hình kiểm soát như vậy ngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu là không đánh giá đúng tài sản đảm bảo. Sự quản lý yếu kém của ngân hàng luôn đi đôi với tình trạng nợ xấu cao.
Sơ hở trong khâu kiểm tra, xét duyệt hồ sơ vay vốn của khách hàng hoặc phân tích tín dụng sơ xài, qua loa, không chính xác nên dễ dẫn đến chấp nhận cho khách hàng vay có quá nhiều rủi ro chắc chắn sẽ phải chấp nhận tỷ lệ nợ quá hạn cao vào một ngày nào đó trong tương lai. Sự tập trung tín dụng quá mức vào một nhóm khách hàng, sự thiếu vắng các biện pháp điều chỉnh danh mục tín dụng trước các diễn biến kinh tế vĩ mô bất lợi, thiếu hệ thống các chuẩn mực đánh giá khách hàng và những rủi ro đạo đức nghề nghiệp chính những yếu tố chủ yếu này sẽ đẩy NHTM rơi vào tình trạng nợ quá hạn cao. * Quy trình nghiệp vụ ngân hàng còn thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ Do quy trình nghiệp vụ thiếu chặt chẽ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng để lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngân hàng. Chính sách cho vay không phù hợp với đặc điểm thực trạng nền kinh tế có thể dẫn đến hậu quả tỷ lệ nợ xấu tăng cao.