Chương 1: Giới thiệu tổng quan về luận văn, nội dung chương này thể hiện khái quát về đề tài bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu trình bày đề tài và tóm lược các nghiên cứu trước. Chương 2: Tác giả khái quát hóa cơ sở lí thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTMCP và lịch sử các nghiên cứu trước đó. Đây là nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu. Chương 3: Trình bày mô hình dự kiến và giải thích các biến được sử dụng trong mô hình, đưa ra cách thức kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: Tác giả đi sâu phân tích kết quả nghiên cứu thể hiện sự tác động các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các NHTMCP trên sàn chứng khoán Việt Nam. Chương 5: Dựa trên những kết quả nghiên cứu đã đạt được tác giả đưa ra những gợi ý chính sách giúp quản trị rủi ro ngân hàng, giảm thiểu nợ xấu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÍ THUYẾT Chương 2 trình bày những lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM, làm cơ sở khoa học cho công trình nghiên cứu của luận văn.
TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU 2. Khái niệm về nợ xấu Nợ xấu hay một số thuật ngữ có ý nghĩa tương tự được sử dụng như là: Nợ dưới chuẩn, những thuật ngữ quốc tế thường được sử dụng là: “bad debt” của CM Buch (1994), “non-performing loan” theo AEG (2004), “doubtful debt” của Fofack (2005) và “Problem Loan” theo Berger và De Young (1997). Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Ngoài ra, khoản nợ xấu còn được coi là "khoản lỗ" hoặc "mất mát" của các khoản vay bị giảm giá trị (Saba et al. Các định chế tài chính đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về nợ xấu, như sau: Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG, 2004), một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc có các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) (Basel Committee on Banking Supervision, 2006), một khoản vay được cho là nợ xấu khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng đánh giá người vay không có khả năng trả nợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện các hành động để cố gắng thu hồi.
(ii) Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Theo chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) (IFRS, 2005), chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired Loans) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming Loans) là khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Về cơ bản IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
“Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” (IMF, 2004). Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: khả năng trả nợ và thời gian trả nợ. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 12/4/2015 của Ngân hàng nhà nước như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Ngày 11/11/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo đó, NHNN Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối; thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của NHNN. Do đó, NHNN Việt Nam được xem là ngân hàng của các ngân hàng. Bên cạnh đó, phạm vi nghiên cứu của tác giả là các NHTMCP niêm yết trên sàn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 chứng khoán Việt Nam – chịu sự quản lí trực tiếp của NHNN. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả dựa vào quan điểm nợ xấu của NHNN.
Chỉ tiêu đo lường nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu trên Tổng dư nợ được sử dụng là chỉ tiêu đo lường nợ xấu. Công 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 thức tính: Tỷ lệ nợ xấu = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên cho thấy dấu hiệu ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản vay. Ngược lại, tỷ lệ này thấp cho thấy chất lượng tín dụng tốt.
Tác động của nợ xấu 2. Tác động của nợ xấu đến hoạt động của NHTM - Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng của ngân hàng. Lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu từ lãi cho vay. Khi nợ xấu tăng cao nghĩa là ngân hàng sẽ không thu được gốc và lãi, đồng thời kéo theo tình trạng ngân hàng không thể mở rộng tín dụng dẫn đến giảm doanh thu từ đó làm suy giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Ngoài ra, nợ xấu gia tăng các ngân hàng bắt buộc phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí xử lý nợ xấu, một số chi phí khác dẫn đến chi phí hoạt động tăng lên và làm lợi nhuận giảm xuống. Cũng đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả tương tự. Fofack (2005) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng khi nợ xấu tăng cao, lợi nhuận của ngân hàng giảm. Cùng với đó, tác giả Aziz et al.
(2009) chỉ ra rằng nợ xấu tác động tiêu cực đối với hoạt động sinh lời của các ngân hàng nước ngoài, trong khi đó đối với các ngân hàng địa phương, nó phụ thuộc vào từng ngân hàng. Theo tác giả Phạm Hữu Hồng Thái (2014) nghiên cứu về tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lợi đã sử dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 dữ liệu của 34 NHTMCP Việt Nam từ 2005 đến 2012, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nợ xấu có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. - Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng: Một trong những thành tố quan trọng tạo nên ấn tượng về hình ảnh của ngân hàng đó là uy tín của ngân hàng. Khi nợ xấu tăng cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, cũng như đánh giá của khách hàng.
Bloem và Gorter (2001) đã nghiên cứu cho thấy trong lĩnh vực ngân hàng, uy tín có vai trò quan trọng, quyết định sự sống còn, tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Vì vậy, khi một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng như uy tín của ngân hàng trên thế giới sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. - Nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Cũng theo như nghiên cứu của Bloem và Gorter (2001), hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi và cho vay. Muốn hoạt động của NHTM diễn ra bình thường, cả hai hoạt động cho vay và huy động đều phải “khỏe mạnh”.
Nếu các khoản tín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ vay sẽ gặp nhiều khó khăn, không thu hồi được hoặc thu hồi không đầy đủ nợ gốc và lãi đã cho vay. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản tiền gửi. Việc mất cân đối trên dẫn đến mất khả năng thanh toán và có thể gây hiệu ứng rút tiền hàng loạt làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động ngân hàng cũng như nền kinh tế của cả đất nước. - Nợ xấu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động NHTM: Theo Dinger (2009), nợ xấu có mối quan hệ chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động của NHTM.
Khi một NHTM có tỷ lệ nợ xấu cao sẽ dấn đến hoạt động yếu kém, không hiệu quả. Nguyên nhân được giải thích là do bắt nguồn từ việc suy giảm khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến giảm sức cạnh tranh trên thị tường. Khi khả năng cạnh tranh bị suy giảm, thị phần của NHTM sẽ sụt giảm, lúc này huy động và tín dụng cũng gặp khó dẫn đến việc sụt giảm lợi nhuận. Hiệu ứng dây chuyền trên làm cho hoạt động ngân hàng ngày càng đi xuống.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Nghiên cứu Auronen (2003) chỉ ra rằng nợ xấu trong danh mục cho vay ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán của các ngân hàng. - Nợ xấu có thể làm phá sản ngân hàng: Các nghiên cứu cho thấy rằng những khoản nợ xấu có thể được sử dụng để đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc khủng hoảng ngân hàng (Louzis et al.