Chương 1. Chương 2: Cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại. NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Hiện nay có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về Ngân hàng như: Ở Pháp: NHTM là những doanh nghiệp và cơ sở thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ tín dụng, chứng khoán hay dịch vụ tài chính.
Ở Mỹ: NHTM là môt tổ chức kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở chuyên nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Ở Việt Nam: Theo luật tổ chức tín dụng 2010 thì NHTM được định nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các hoạt động kinh doanh này bao gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Như vậy từ những quan điểm và định nghĩa như trên có thể rút ra: NHTM là một trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm và khu vực đầu tư của nền kinh tế với chức năng cơ bản là trung gian tín dụng. Theo đó, NHTM sẽ huy động và tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn cho vay nhằm đáp các nhu cầu thiếu hụt vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động của NHTM cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính nhất bao gồm hoạt động tín dụng, tiền gởi và các dịch vụ thanh toán. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cụ thể: + Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. + Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. + Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
+ Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. + Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Môi giới tiền tệ là việc làm trung gian có thu phí môi giới để thu xếp thực hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác giữa các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính khác. + Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.
+ Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác. + Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng; góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức nêu trên. Khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp bao gồm khoản đầu tư chiếm trên 50% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hoặc khoản đầu tư khác đủ để chi phối quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
Mặc dù hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng các ngân hàng chỉ được thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép của họ. Những chức năng này sẽ do NHTW quyết định theo từng trường hợp cụ thể.3 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại: Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Thông qua chức năng này, NHTM là cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn. Khi đó, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay (huy động) vừa đóng vai trò là người cho vay (cấp tín dụng).
Với chức năng này, NHTM làm cho nguồn vốn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhàn rỗi của nền kinh tế được sử dụng có hiệu quả. Tuy nhiên, cũng vì chức năng quan trọng này mà hoạt động của hệ thống NHTM có sức ảnh hưởng và tác động vô cùng to lớn đối với nền kinh tế, xã hội. Một khi hoạt động của hệ thống NHTM có nhiều bất ốn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực và đe dọa sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Chức năng thủ quỹ: Bằng chức năng này, NHTM thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gởi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện các yêu cầu rút tiền, chi trả tiền của khách hàng là các chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với NHTM, thực hiện chức năng thủ quỹ là cơ sở để NHTM thực hiện chức năng thanh toán, đồng thời tạo lập nguồn vốn để thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Chức năng trung gian thanh toán: Trên cơ sở thực hiện chức năng thủ quỹ, thay mặt cho khách hàng, NHTM thực hiện trích tiền trên tài khoản trả cho người được hưởng, chuyển tiền hoặc nhận tiền vào tài khoản theo ủy nhiệm của khách hàng. Đối với nền kinh tế, chức năng thanh toán có ý nghĩa lớn vì tạo điều kiện thuận lợi giúp khách hàng thanh toán nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Từ đó thúc đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, kích thích tăng trưởng kinh tế.2 Hiệu quả hoạt động ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm về hiệu quả: Trong lĩnh vực kinh tế học, hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào một cách tối ưu nhất để tối đa hóa kết quả đầu ra.
Xét về mặt tương đối, một hệ thống được gọi là hiệu quả hơn khi cùng với một nguồn lực đầu vào nó có thể cho ra nhiều đơn vị đầu ra hơn. Xét về mặt tuyệt đối, một hệ thống được coi là hiệu quả hơn nếu: (i) Không có cách nào để thực hiện tốt hơn để một thành phần nào đó được lợi hơn mà không làm cho thành phần khác bị thiệt đi; (ii) Không thể tăng được sản lượng đầu ra mà không tăng thêm yếu tố đầu vào; (iii) Chi phí để tạo ra 1 đơn vị đầu ra là thấp nhất. Hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ cạnh tranh (Daft, 2008). Hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được đánh giá qua 2 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhóm chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
Hiệu quả tuyệt đối cho phép đánh giá hiệu quả theo chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên loại chỉ tiêu này lại gặp phải khó khăn khi sử dụng để so sánh các ngân hàng có quy mô khác nhau. Hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (được đo lường bằng kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) hoặc dưới dạng động (được đo lường bằng mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí).2 Chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, công cụ phổ biến nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM là các chỉ số tài chính. Có nhiều loại chỉ số tài chính được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Trong đó, chỉ số ROE và ROA phản ánh rõ nét nhất hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra lợi nhuận (yếu tố đầu ra) của NHTM.