CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.Tổng quan về Ngân hàng Chính sách xã hội và đối tượng chính sách 1. Khái niệm về Ngân hàng Chính sách xã hội Hệ thống ngân hàng Việt Nam được xây dựng với2 cấp bậc dựa trên vai trò và chức năng: Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với vai trò quản lý, điều hành toàn bộ hệ thống ngân hàng và các ngân hàng với vai trò thực hiện các hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được ban hành vào năm 2010 thì NHNN là cơ quan ngang bộ của Chính phủ (Được quy định tại Điều 2, Khoản 1), tức là hệ thống ngân hàng Việt Nam được xây dựng theo hướng trực thuộc Chính phủ[5].Do đó, việc thực thi các công cụ điều tiết kinh tế của NHNNchịu sự chi phối của Chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế mà Chính phủ đã đặt ra.
Các chính sách tiền tệ mà NHNN ban hành được truyền dẫn qua các kênh khác nhau để tác động đến nền kinh tế nước nhà, trong đó, các ngân hàng đóng vai trò truyền dẫn chủ yếu. Căn cứ vào khái niệm về ngân hàng được quy định tại Điều 4, Khoản 2 của Luật Các tổ chức tín dụng được ban hành vào năm 2010 thì ngân hàng là một trong những tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng được đề cập ở trên [4]. Như vậy, ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng chính sách (NHCS) và ngân hàng hợp tác xã. Các ngân hàng trên được phân loại dựa trên mục tiêu hoạt động khác nhau.
Cụ thể, NHTM hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho chủ sở hữu của ngân hàng khi đó thì NHCS hoạt động nhằm thực hiện các chính sách đã đề ra của Chính phủmà không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Bên cạnh NHCS thì ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân, hoạt động với mục tiêu là tăng cường tính liên kết giữa các quỹ tín dụng nhân dân lại với nhau nhằm hỗ trợ tài chính và điều hoà nguồn vốn giữa các thành viên của ngân hàng. Như vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 không phải ngân hàng nào cũng hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận mà còn tồn tại để thực hiện các nhiệm vụ riêng biệt nhằm ổn định sự phát triển bền vững của quốc gia về những khía cạnh khác nhau như: đời sống của người dân;hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các cá nhân, hộ gia đình và tổ chức; cơ sở hạ tầng;… Trong 3 nhóm ngân hàng nêu trên, NHCS được chia thành 2 nhóm là ngân hàng phát triển và ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH). Việc phân chia này được thực hiện dựa trên chức năngtrong việc hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính sách phát triển đất nước và chính sách xã hội.
Hiện nay, mỗi hình thức NHCS đều tồn tại duy nhất một ngân hàng thực hiện vai trò này là Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam[10]. Theo đó, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam sẽ thực hiện vai trò của một NHCSXH trong việc cấp tín dụng cho các đối tượng chính sách (ĐTCS) trong hoạt động SXKD, học tập, nâng cao chất lượng cuộc sốnggóp phần thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội [9]. Tóm lại ta có thể định nghĩa như sau: NHCSXH là một trong những hình thức của NHCS với tư cách của một tổ chức tín dụng trong việc nhận tiền gửi, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản và cấp tín dụng cho các ĐTCS vớimục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của các ĐTCS thay vì lợi nhuận. Đối tượng chính sách Khách hàng của NHCSXH là các ĐTCS được ưu tiên hỗ trợ về nguồn vốn thông qua việc sử dụng nguồn lực tài chính do nhà nước huy động.
ĐTCS chủ yếu là các người nghèo và các cá nhân có thu nhập thấp hoặc sinh sống tại các khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn được nhà nước khuyến khích phát triển nhằm tạo công ăn việc làm, ổn định cuộc sống của người dân góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo toàn dân, thu hẹp khoảng cách giữa giàu và nghèo trong xã hội. Theo đó, các ĐTCS được quy định cụ thể tại Điều 2, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các ĐTCS khác[2], bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 ✓ Các hộ nghèo và cận nghèo (Được xác định dựa trên các tiêu chuẩn về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản được quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020). ✓ Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề (Được quy định tại quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 09 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và quyết định số 751/QĐ-TTg ngày 30 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh mức cho vay đối với học sinh, sinh viên). ✓ Các ĐTCS đi lao động có thời hạn ở nước ngoài (Được quy định tại quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 4 năm 2004 của Thống đốc NHNN về việc cho vay đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài).
✓ Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (Được quy định tại quyết định số 50/2016/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủvề tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016 – 2020 và quyết định số 1049/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn). Ngoài các ĐTCS được nên trên, Thủ tướng Chính phủsẽ quy định các ĐTCS khác phù hợp với sự phát triển kinh tế từng thời kỳ theo định hướng đã được đặt ra. Một số ĐTCS được quy định bổ sungNghị định 78/2002/NĐ-CP được trình bày dưới đây: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 ✓ Các hộ gia đình tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch và chưa bảo đảm vệ sinh để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (Được quy định tại quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 62/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2004 về tín dụng thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn). ✓ Các đối tượng được quy định trong nghị định Chính phủ số 100/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
✓ Hộ mới thoát nghèo (Hộ gia đình đã từng là hộ nghèo, hộ cận nghèo ra khỏi danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo tối đa là 3 năm) được quy định tại quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 28/2015/QĐ-TTg ngày 21 tháng 07 năm 2015 về tín dụng đối với hộ mới thoát nghèo. Các nguyên nhân đói nghèo Trong phân tích trên, ta thấy được ĐTCS chiếm tỷ trọng chi phối trong các đối tượng được Chính phủ ưu tiên khuyến khích phát triển là các hộ nghèo. Do đó, việc phân tích các nguyên nhân gây ra sự đói nghèo này là một trong những nhân tố quan trọng trong việc giúp cho NHCSXH đưa ra các sản phẩm cho vay phù hợp với các nguyên nhân của từng đối tượng khách hàng nhằm thực hiện mục đích đã đề ra. Các tác giả Trần Thị Thảo Huyền (2017) và Hoàng Thanh Tùng (2013) và Ngô Thị Thanh Tâm (2013) đã thống nhất với nhau trong việc phân chia các nguyên nhân đói nghèo thành 4 nhóm chính, các nguyên nhân này được tác giả đúc kết lại và trình bày dưới đây.
Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên Nước ta có sự đa dạng về vị trí địa lý và khí hậu từng vùng miền nên đã có những điều kiện khác nhau trong việc sản xuất và kinh doanh. Đối với các vùng có khí hậu thuận lợi cũng như địa hình bằng phẳng thì kinh tế dễ dàng phát triển nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 điều kiện sống của người dân ở mức cao. Tuy nhiên, không ít các vùng lãnh thổ của nước ta có điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thường xuyên phải gánh chịu các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, sạt lỡ đất,… cùng với các điều kiện về địa hình như đất đồi trọc, đất đai cằn cỗi và khu vực núi cao nguy hiểm gây cản trở làm đường trong việc lưu thông hàng hoá và di chuyển của người dân giữa các vùng. Tất cả các yếu tố trên đã gây trở ngại lớn trong việc tham gia vào hoạt động sản xuất của người dân cũng như là tiếp cận với tri thức của nhân loại.
Đặc biệt là khu vực các cộng đồng thiểu số cư trú thì trình độ học vấn vẫn là một trong nhưng mối quan tâm hàng đầu của nhà nước trong việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào khai thác, sử dụng đất đai một cách hiệu quả. Như vậy, môi trường tự nhiên đã tác động cả tích cực và tiêu cực đến điều kiện sống của người dân tuỳ vào đặc điểm của từng vùng. Do đó, các hộ nghèo ở nước ta thường tập trung theo vùng và có cùng các đặc điểm về điều kiện SXKD. Vì thế, tại mỗi vùng khác nhau thì NHCSXH cần phải nghiên cứu và ban hành các sản phẩm phù hợp với điều kiện, nhu cầu về vốn của người dân.
Nhóm nguyên nhân xuất phát từ các khía cạnh của người nghèo Để có thể SXKD, thương mại nhằm kiếm thu nhập chăm lo cho cuộc sống chính mình và gia đình thì mỗi người lao động cần phải hội tụ nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, không phải ai cũng có các điều kiện lao động như nhau nên đã gặp phải không ít khó khăn, gian khổ trong quá trình lao động của mình mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về đời sống hàng ngày của mình nói riêng và gia đình nói chung.