Chương 1 sẽ giới thiệu tổng quát về tính cấp thiết của đề tài, nêu lên bối cảnh khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Chương này cũng trình bày khái quát về mục tiêu nghiên cứu, trong đó nêu rõ các câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu cũng được giới thiệu tóm tắt. Những đóng góp của nghiên cứu cũng được nhấn mạnh cùng với kết cấu của bài nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan lý thuyết về rủi ro tín dụng và kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, và lý thuyết về Stress testing, bao gồm khái niệm, nội dung và các phương pháp thực hiện Stress testing khác nhau. Ngoài ra, sơ lược kết quả các nghiên cứu trước đây về Stress testing của các tác giả trong và ngoài nước cũng được nghiên cứu giới thiệu sơ lược. Trong đó trình bày hai nghiên cứu cơ bản, làm tiền đề cho nghiên cứu này triển khai và mở rộng. Chương 3: Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3 sẽ thảo luận chi tiết cách lựa chọn mẫu và kỳ nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu cũng như trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu.
Tác giả trình bày LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cụ thể từng bước thực hiện Stress testing, cách xây dựng các kịch bản, đưa ra các mô hình tổng quát và xây dựng công thức tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố vĩ mô đến nợ xấu, từ đó tính chỉ tiêu liên hệ với chất lượng tín dụng của ngân hàng là hệ số an toàn vốn tối thiểu trước và sau cú sốc để đánh giá khả năng chịu đựng của các ngân hàng này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 sẽ trình bày chi tiết kết quả tính toán hệ số an toàn vốn cho 20 ngân hàng sau cú sốc trong thời gian 2 năm, dự báo tình hình của các ngân hàng từ năm 2015- 2016. Đồng thời đưa ra nhận xét về khả năng chịu đựng các cú sốc cũng như mức độ đảm bảo an toàn vốn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay từ kết quả có được. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương 5 sẽ kết luận nghiên cứu, tóm tắt kết quả nghiên cứu chính và đề xuất các kiến nghị nhằm giúp nâng cao chất lượng hoạt động và kiểm soát rủi ro của các ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Đồng thời, chương này cũng đưa ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ KIỂM TRA SỨC CHỊU ĐỰNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Mishkin va Eakins (2009), rủi ro trong hệ thống NHTM được chia làm 10 loại, đó là: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro tỷ giá, rủi ro hoạt động, rủi ro công nghệ, rủi ro ngoại bảng, rủi ro chủ quyền và rủi ro vỡ nợ.
Trong đó, rủi ro tín dụng là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi chất lượng của khoản vay. Rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Colquitt (2007) định nghĩa rủi ro tín dụng xảy ra khi người cho vay phải đối mặt với nguy cơ mất vốn do người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ nợ được quy định trong hợp đồng tín dụng. Theo Basel 2, rủi ro tín dụng được định nghĩa đơn giản nhất là những tiềm năng mà khách hàng vay không đáp ứng được các nghĩa vụ của mình phù hợp với các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, rủi ro tín dụng là nguy cơ mất vốn và lãi do sự thất bại trong việc trả nợ khoản vay của người đi vay hoặc không đáp ứng được nghĩa vụ hợp đồng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến vỡ nợ như bên đi vay đang ở trong tình trạng căng thẳng tài chính và có thể phải đối mặt với phá sản, hoặc từ chối các nghĩa vụ trả nợ trong các trường hợp gian lận hoặc tranh chấp pháp lý.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bị ảnh hưởng bởi 2 nhóm nhân tố chính, đó là các nhân tố liên quan đến vĩ mô và các nhân tố thuộc về đặc trưng của ngân hàng (Lê Vân Chi & Hoàng Trung Lai, 2014).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Các nhân tố vĩ mô Tăng trưởng kinh tế Theo nghiên cứu của Lucas và Koopman (2005), xác suất vỡ nợ phụ thuộc vào trạng thái của chu kỳ kinh tế, theo đó trạng thái của chu kỳ kinh tế ảnh hưởng ngược chiều đối với rủi ro tín dụng, khi nền kinh tế suy thoái, rủi ro tín dụng cũng sẽ tăng lên do trong giai đoạn này sản xuất khó khăn, các doanh nghiệp có nguy cơ rơi vào tình trạng phá sản và không có khả năng trả được nợ, làm tăng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng lên cao. Theo nghiên cứu của Jakubik (2007), tốc độ tăng trưởng GDP sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, thất nghiệp và giá trị tài sản của doanh nghiệp, một tốc độ tăng trưởng giảm của GDP sẽ làm giảm chất lượng danh mục nợ của ngân hàng, và làm tăng rủi ro tín dụng. Như vậy, tổn thất của ngân hàng hay rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Jimenez & Saurina (2005), một sự tăng trưởng quá nhanh của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự bùng nổ cho vay rủi ro cao, yêu cầu tài sản thế chấp giảm đáng kể, kết quả làm tăng rủi ro tín dụng trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng quá nóng này.
Lãi suất Lãi suất đại diện cho nhu cầu tín dụng của nền kinh tế và chính sách tiền tệ của NHTW, lãi suất không chỉ có ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp, người đi vay mà còn ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng. Theo nghiên cứu của Jesus & Gabriel (2006), mức lãi suất không ổn định có thể tác động đến kết quả hoạt động của ngân hàng và làm tăng rủi ro, do lãi suất thực tăng sẽ tạo động lực cho các ngân hàng gia tăng các hoạt động kinh doanh rủi ro và ngược lại. Ngoài ra, trong trường hợp lãi suất tăng đột xuất sẽ làm suy yếu khả năng trả nợ của người đi vay, nhất là khi lãi suất cho vay không cố định, làm tăng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Vì vậy, rủi ro tín dụng thường biến động cùng chiều với lãi suất.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Lạm phát Theo nghiên cứu của Jakubik (2008), một sự gia tăng của mức giá trong nền kinh tế sẽ tương ứng với sự sụt giảm giá trị thực của một khoản tín dụng, lạm phát tăng sẽ làm tăng chi phí tài chính của doanh nghiệp do lãi suất tăng và làm giảm giá trị thị trường của tài sản, làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay và làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng. Như vậy, lạm phát có mối quan hệ đến khả năng trả nợ của người đi vay, khi lạm phát tăng cao, thu nhập thực tế của người đi vay giảm, tiền dùng để trang trải cho khoản tín dụng giảm xuống do nhu cầu chi tiêu cần thiết của họ không giảm hoặc giảm ít, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng, khả năng tăng tỷ lệ nợ xấu cao, rủi ro tín dụng của hệ thống từ đó cũng tăng lên. Yếu tố khác đặc trưng cho nền kinh tế Theo nghiên cứu của Figlewski & Frydman (2012), có ba nhóm yếu tố tác động đến mức độ tín nhiệm chung của một tổ chức tín dụng, (i) các yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế vĩ mô nói chung (ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, vv), (ii) các yếu tố đặc trưng cho nền kinh tế thực (như tăng trưởng GDP thực tế, chỉ số VN-INDEX…), (iii) các yếu tố phản ánh điều kiện thị trường tài chính (như lãi suất). Trong các yếu tố đại diện cho nền kinh tế thực, các hoạt động của thị trường chứng khoán là một chỉ số về sức khỏe nói chung của nền kinh tế vĩ mô, hơn nữa trong một mô hình cấu trúc rủi ro vỡ nợ, phản ứng của vốn chủ sở hữu của một tổ chức là một thước đo trực tiếp đo lường nguy cơ vỡ nợ.2 Các nhân tố đặc trưng của ngân hàng Các quy định về kiểm soát hoạt động ngân hàng Các quy định về kiểm soát hoạt động ngân hàng như quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được đưa ra nhằm hạn chế tối đa rủi ro cho hoạt động ngân hàng, khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này tức là nó đã tự bảo vệ cho mình và người gửi tiền trước những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 cú sốc về tài chính.
Các quy định này có hiệu quả trong việc tạo áp lực để các ngân hàng duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên mức tối thiểu. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kim & Santomero (1988), quy định về vốn không thể ngăn chặn các ngân hàng lựa chọn danh mục đầu tư rủi ro, hay theo Godlewski (2004), sự tăng lên trong quy định về tiêu chuẩn vốn bắt buộc có thể có tác động ngược lại, ban đầu sẽ làm giảm động lực của ngân hàng trong việc cho vay các khoản rủi ro, nhưng sau đó nó sẽ là nguyên nhân khiến các ngân hàng tăng các danh mục đầu tư mạo hiểm, bởi vì nếu các ngân hàng phải đối mặt với những quy định chặt chẽ hơn về an toàn vốn tối thiểu, các ngân hàng này sẽ cố gắng làm tăng số lượng các khoản cho vay trong thời điểm hiện tại để làm tăng lợi nhuận, tăng vốn tự có trong tương lai. Tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng sẽ có đóng góp đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội thông qua việc tài trợ vốn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tăng trưởng tín dụng càng cao sẽ càng hiệu quả, nghiên cứu của Jesus & Gabriel (2006) chỉ ra rằng, tăng trưởng tín dụng có thể giải thích cho sự tồn tại của nợ xấu trong tương lai, nghĩa là tăng trưởng tín dụng càng cao thì nợ xấu mà các ngân hàng phải đối mặt càng lớn.
Giá trị tổng tài sản Giá trị tổng tài sản của một ngân hàng có liên quan đến rủi ro tín dụng.