CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG 1. Khái niệm sáp nhập và mua lại Hoạt động M&A (tên tiếng Anh là Mergers and Acquisitions) ngân hàng có nghĩa là hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng. M&A được hiểu là khi một ngân hàng mua lại một phần hoặc toàn bộ cổ phần của một ngân hàng khác để giành quyền kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của ngân hàng đó.
Nguyên tắc cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc tạo ra những giá trị mới cho cổ đông. Hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một ngân hàng đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị điều hành của ngân hàng. Mức độ thay đổi về quản trị phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ ngân hàng và các thoả thuận của các bên tiến hành thương vụ M&A.
M&A bao gồm các hoạt động: sáp nhập, hợp nhất và mua lại. Tại Việt Nam hoạt động M&A được quy định tại Thông tư 04/2010/TT-NHNN, điều 4 do NHNN ban hành ngày 11/02/2010: ‐ Sáp nhập tổ chức tín dụng (TCTD) là hình thức một hoặc một số TCTD sáp nhập vào một TCTD khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập. ‐ Hợp nhất TCTD là hình thức hai hoặc một số TCTD hợp nhất thành một TCTD mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị hợp nhất. ‐ Mua lại TCTD là hình thức một TCTD mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 vụ và lợi ích hợp pháp của TCTD khác.
Sau khi mua lại, TCTD bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của TCTD mua lại. Ngoài ra, M&A cũng được đề cập trong luật ngân hàng số 60/2005/QH11 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN VN) ban hành ngày 29/11/2005, luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 do Quốc hội nước CHXHCN VN ban hành ngày 03/12/2004 và luật đầu tư số 59/2005/QH11 do Quốc hội nước CHXHCN VN ban hành ngày 03/12/2004 [Xem phụ lục 1 (tr. Phân biệt khái niệm sáp nhập và mua lại Hoạt động sáp nhập về cơ bản giống với mua lại, đều là hoạt động qua đó các ngân hàng kiếm lợi ích kinh tế nhờ tăng quy mô, giảm chi phí, mở rộng thị trường nhưng chúng có những điểm khác biệt đó là hoạt động sáp nhập thường để chỉ sự kết hợp giữa hai ngân hàng “tương đồng” tức là có quy mô, uy tín, sức mạnh tài chính,… như nhau xét trên nhiều mặt và kết quả thường tạo ra một ngân hàng mới, mục đích của sáp nhập là sự hợp tác cùng có lợi của cả hai bên sáp nhập. Trong khi đó, hoạt động mua lại là giao dịch có thể xảy ra trường hợp mua lại (hay thâu tóm) toàn bộ hoặc mua lại một phần ngân hàng hay ngân hàng khác.
Trường hợp mua lại toàn bộ, ngân hàng bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, ngân hàng tiến hành mua lại ngốn trọn hoạt động kinh doanh của ngân hàng kia, tuy nhiên cổ phiếu của ngân hàng đi mua lại vẫn được tiếp tục giao dịch bình thường, kết quả mua lại thường không hình thành ngân hàng mới, mục đích của việc mua lại là nhằm “thâu tóm” ngân hàng mục tiêu. Tuy nhiên, việc phân biệt chúng đôi khi còn phụ thuộc vào mục tiêu truyền thông của các bên liên quan. Chẳng hạn, một ngân hàng mua lại một ngân hàng khác, giành quyền kiểm soát toàn bộ và xoá sổ ngân hàng bị thâu tóm nhưng vẫn có thể thông tin ra bên ngoài là sự sáp nhập. Một thương vụ M&A được coi là mua bán hay sáp nhập tuỳ thuộc vào thái độ của các bên tham gia: khi Ban điều hành của cả hai phía bị sáp nhập và đi sáp nhập có thái độ hợp tác, lạc quan đối với thương vụ thì đó là sáp nhập; ngược lại khi bên bị sáp nhập không hợp tác thì được coi là vụ mua lại.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hình thức sáp nhập và mua lại Dựa vào mối liên kết giữa các bên liên quan, hoạt động M&A có thể phân loại thành 3 nhóm: ‐ M&A theo chiều ngang: là sự kết hợp giữa hai ngân hàng kinh doanh và cùng cạnh tranh trực tiếp, chia sẻ cùng dòng sản phẩm, cùng thị trường. Kết quả từ việc sáp nhập theo hình thức này sẽ mang lại cho các bên tham gia sáp nhập cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối,. Rõ ràng, khi hai đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lại với nhau (dù sáp nhập hay thâu tóm) họ không những giảm bớt cho mình một “đối thủ” mà còn tạo nên một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các “đối thủ” còn lại.
‐ M&A theo chiều dọc: là sự sáp nhập giữa ngân hàng với những ngân hàng nằm trên cùng một chuỗi cung ứng, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của ngân hàng sáp nhập trên một chuỗi giá trị đó. Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho ngân hàng tiến hành hợp nhất lợi thế như: giảm các chi phí trung gian phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ đến với khách hàng, kiểm soát được rủi ro khi cung cấp tín dụng cho khách hàng. ‐ M&A tổ hợp (tập đoàn): Mục đích của sáp nhập theo hình thức này nhằm giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh. Sáp nhập tổ hợp được phân thành 3 nhóm nhỏ: + Sáp nhập tổ hợp thuần túy: trường hợp khi ngân hàng sáp nhập với những ngân hàng không có mối quan hệ, không cùng lĩnh vực kinh doanh với nhau, như một NHTM sáp nhập với một công ty địa ốc, bất động sản… Phương thức sáp nhập này thường tăng quy mô của ngân hàng đi sáp nhập, thông qua đó tăng sự ảnh hưởng của nó với thị trường, đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.
+ Sáp nhập bành trướng về địa lý: hai ngân hàng cùng cung cấp một chuỗi sản phẩm, dịch vụ nhưng hoạt động chính trên hai trị trường hoàn toàn cách biệt về địa lý. Phương thức sáp nhập này có tác dụng mở rộng thị trường, tăng thị phần cho các ngân hàng sáp nhập. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 + Sáp nhập đa dạng hóa sản phẩm: xảy ra giữa hai ngân hàng có phân khúc khách hàng khác nhau, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ khác nhau trên cùng một thị trường. Động cơ thực hiện sáp nhập và mua lại Các ngân hàng thực hiện M&A thường kỳ vọng đạt được kết quả thông qua các động cơ sau đây: 1.
Hợp lực hay cạnh tranh Các ngân hàng thực hiện các chiến lược có lợi cho cả đôi bên có thể chọn kế hoạch mua lại. Ngân hàng sau sáp nhập sẽ đem lại hiệu quả cao hơn là hiệu quả của mỗi ngân hàng trước khi sáp nhập cộng lại thông qua việc cắt giảm chi phí hoặc nâng cao khả năng cạnh tranh cao hơn nhờ lợi thế quy mô hoạt động và lợi thế phạm vi hoạt động hoặc năng lực quản trị và bí quyết kinh doanh được khai thác hiệu quả hơn. Một số loại hợp lực có thể điểm lại như sau: ‐ Hợp lực tiết kiệm chi phí là hợp lực tạo ra do đạt được hiệu quả kinh tế quy mô hoặc hiệu quả kinh tế phạm vi hoạt động. Hoạt động M&A giúp cho bên mua giảm bớt các chi kinh doanh như chi phí tìm kiếm khách hàng mới, chi phí mở rộng thị trường, chi phí cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu,… ‐ Hợp lực doanh thu là hợp lực tạo ra do kết hợp doanh thu của hai ngân hàng và kết hợp bán chéo các sản phẩm cho nhau; ‐ Hợp lực tài chính là hợp lực tạo ra do giảm chi phí huy động vốn.
Nếu dòng thu nhập của hai ngân hàng không có quan hệ tuyến tính cùng chiều thì việc hợp nhất sẽ giúp làm giảm tính biến động và do đó giảm chi phí niêm yết của hai ngân hàng và chi phí giao dịch chứng khoán. Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường Động cơ này xuất phát từ mối quan hệ đối kháng giữa ban điều hành và cổ đông. Nếu tiền lương thưởng của ban điều hành được tính dựa trên cơ sở quy mô hoạt động của ngân hàng thì ban điều hành sẽ có động lực mở rộng quy mô thông qua M&A mà không quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế. Một số ngân hàng làm ăn có lãi và có nguồn tiền mặt nhàn rỗi cũng lựa chọn phương án mở rộng quy mô hoạt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 động thông qua M&A nhằm tránh bị trở thành đối tượng dễ bị thôn tính.
Với việc mở rộng này, ban điều hành hy vọng họ có thể giữ được công việc quản lý của họ. Quyền lực thị trường sẽ giúp ngân hàng tạo lập thị trường về giá cả (lãi suất, tỉ giá, phí dịch vụ) cũng như điều tiết thị trường về vốn, thanh khoản hoặc quyền lực do lợi thế cạnh tranh tuyệt đối được hình thành các sản phẩm đặc thù hay chuyên dụng 1. Giảm chi phí gia nhập thị trường Một ngân hàng muốn mở rộng sản xuất kinh doanh có thể tiến hành mua một ngân hàng sẵn có khác. Nếu chi phí đầu tư mới cao hơn số tiền mua một ngân hàng hiện hữu thì M&A là một sự lựa chọn có lợi hơn.
Để đánh giá mức độ hấp dẫn về giá của ngân hàng mục tiêu, người ta sử dụng chỉ số q1. Lý thuyết này đã rất thành công trong việc giải thích sự bùng nổ hoạt động M&A trong thập kỷ 1970, khi lạm phát và lãi suất cao làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh, trong khi chi phí thay thế tài sản trở nên đắt đỏ, do đó làm giảm chỉ số q. Đồng thời, hoạt đông M&A sẽ góp phần tận dụng và chia sẽ những nguồn lực sẵn có. Ví dụ: chia sẽ kinh nghiệm trong quá trình kinh doanh, thậm chí có thể tận dụng hệ thống phân phối bán hàng.