Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thị trường mở Chương 2: Hoạt động thị trường mở ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thị trường mở ở Việt Nam CHƯƠNG NHỮNG VÁN ĐÈ CƠ BẢN VE THI TRUONG MO’ 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỄM THỊ TRƯỜNG MỞ 1. Khái niệm Thị trường mở là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Trung ương với các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính. Thông qua hoạt động mua bán này, Ngân hàng Trung ương có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân hàng và gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng cả về mặt lượng và mặt giá.
Ở các nước khác nhau sẽ có các giới hạn khác nhau về chủ thê tham gia và hàng hóa giao dịch của Ngân hàng Trung ương trong nghiệp vụ thị trường mở, từ đó sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị trường mở của từng nước. Khoản 4 Điều 9 Luật số 10/2003/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 quy định: “Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiên tệ quốc gia”. Dac điểm của nghiệp vụ thị trường mở - Nghiệp vụ thị trường mở hoạt động dưới hai hình thức: + Nghiệp vụ thị trường mở chủ động được thực hiện với mục đích thay đổi mức dự trữ của hệ thống ngân hàng và tiền cơ sở. + Nghiệp vụ thị trường mở bị động thực hiện nhằm bù đắp những biến động của các nhân tố ảnh hưởng một cách không có lợi đối với tổng lượng tiền trong lưu thông.
- Các giấy tờ có giá mà Ngân hàng Trung ương sử dụng trong nghiệp vụ thị trường mở thường là các giấy nợ của Chính phủ, mà chủ yếu là tín phiếu kho bạc vì chứng khoán này có tính thanh khoản cao nên Ngân hàng Trung ương có thê thực hiện nghiệp vụ một cách nhanh chóng, chính xác, không chậm trễ về mặt hành chính, do đó có thể gây tác động tức thời đến lượng cung tiền tệ, đồng thời nghiệp vụ thị trường mở không làm phát sinh rủi ro tài chính xét ở góc độ Ngân hàng Trung ương lẫn ngân hàng thương mại. - Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời hạn giao dịch. Điều này thể hiện thông qua việc Ngân hàng Trung ương có thể điều chỉnh vốn khả dụng của các ngân hàng ở quy mô lớn - nhỏ, thời hạn ngắn hay dài và sự điều tiết này ở cả hai chiều bơm và hút vốn khả dụng. - Đây là công cụ chính sách tiền tệ chủ động, nghĩa là nghiệp vụ được tiến hành hoàn toàn theo chủ ý của Ngân hàng Trung ương mà không chịu ảnh hưởng của bất kỳ nhân tố nào khác.
Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Trung ương có thé tạo ra những biến động có tính chất cung cấp tín hiệu cho thị trường theo mục tiêu của chính sách tiên tệ và tác động vào xu hướng trên thị trường. Nghiệp vụ thị trường mở do Ngân hàng Trung ương khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác do chính các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện nghiệp vụ định kỳ vào các thời điểm cần thiết. - Nghiệp vụ thị trường mở do các ngân hàng tự nguyện thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không có tính chất bắt buộc như dự trữ bắt buộc.
- Nghiệp vụ thị trường mở có thể dễ dàng đảo ngược khi có một quyết định sai lầm xảy ra trong quá trình tiền hành nghiệp vụ. Chẳng hạn như Ngân hàng Trung ương nhận thấy rằng lượng tiền cung ứng tăng quá nhanh do Ngân hàng Trung ương mua giấy tờ có giá trên thị trường mở quá nhiều thì Ngân hàng Trung ương có thể điều chỉnh ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán giấy tờ có giá trên thị trường sau đó. HÀNG HÓA GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG MỞ 1. Tin phiếu kho bac Là giấy nhận nợ do Chính phủ phát hành, huy động vốn dé bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính và có thời hạn dưới 12 tháng.
Đây là hàng hóa chủ yếu của nghiệp vụ thị trường mở ở Ngân hàng Trung ương các nước, vì ưu điểm là tính thanh khoản cao, được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, được phát hành định kỳ với khối lượng lớn vì thế có thể thỏa mãn nhu cầu can thiệp của Ngân hàng Trung ương với liều lượng khác nhau và cuối cùng là được chuyên nhượng một cách thuận lợi. Tín phiếu Ngân hàng Trung ương Tín phiếu Ngân hàng Trung ương do Ngân hàng Trung ương phát hành, là giấy nhận nợ của Ngân hàng Trung ương đối với những người mua tín phiếu. Tín phiếu Ngân hàng Trung ương cũng có những đặc điểm tương tự như tín phiếu kho bạc, tuy nhiên do đây là loại tín phiếu do chính Ngân hàng Trung ương phát hành nên nó tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương chủ động hơn trong điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc mua bán giấy tờ có giá này. Trái phiếu Chính phủ Trái phiếu Chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành thông thường nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách Nhà nước.
Trái phiếu Chính phủ có đặc điểm: -_ Thời hạn từ 1 đến 5 năm. Lãi suất cố định. - Tiền lãi trái phiếu được thanh toán theo nhiều phương thức khác nhau như trả lãi một lần khi đáo hạn, trả lãi định kỳ, trả lãi trước. - Được chuyển nhượng theo luật pháp quy định.
- _ Được mua, bán công khai trên thị trường. Trái phiếu đô thị Trái phiếu đô thị do chính quyền của các đô thị lớn phát hành dé vay ng nhằm tập trung nguồn vốn để đầu tư vào các công trình, dự án của các đô thị. Thực chất trái phiếu đô thị là một dạng trái phiếu Chính phủ, nhưng được chính quyền địa phương phát hành để phục vụ các chương trình phát triển kinh tế xã hội của các địa phương. Chứng chỉ tiền gửi Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng (hay các định chế tài chính phi ngân hàng phát hành), xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định.
Chứng chỉ tiền gửi (hay còn gọi là kỳ phiếu ngân hàng) có đặc điểm: - Được mua, bán, được chuyển nhượng. -_ Được cầm cố, thế chấp để vay vốn. Đặc điểm này giúp cho chứng chỉ tiền gửi được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ do nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyên đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn và chịu lãi phạt. ~ Có thời hạn xác định, có thể từ 7 ngày đến 7 năm hoặc dài hơn nhưng chứng chỉ tiền gửi giao dịch trên thị trường tiền tệ thường có thời hạn ngắn.
Chứng chỉ tiền gửi thường được phát hành với mệnh giá cao và đối tượng mua chủ yếu là các tổ chức. Cho đến nay, vốn huy động bằng phát hành chứng chỉ tiền gửi đang trở thành nguồn vốn quan trọng của các ngân hàng. Thương phiếu Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu thường do các công ty phát hành nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn theo cách thức gần giống như ngân hàng phát hành.
Tuy nhiên khác với chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu thường được phát hành dưới hình thức chiết khấu, thời hạn nhìn chung là ngắn, dưới 30 ngày. Riêng ở Việt Nam, hàng hóa giao dịch trên thị trường mở ngày càng đa dạng. Sự phát triển về số lượng giấy tờ có giá trong danh mục giấy tờ có giá tham gia giao dịch trên thị trường mở đã có sự tăng dần qua các năm. Theo Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 05/01/2010, danh mục giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch với Ngân hàng Nhà nước bao gồm: - Tin phiéu Ngan hang Nhà nước - Trái phiếu Chính phủ bao gồm: Tín phiếu kho bạc, Trái phiếu kho bạc, Trái phiếu công trình Trung ương, Công trái xây dựng Tổ quốc, Trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng phát triển Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành -_ Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành - Trai phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành.
THÀNH VIÊN CỦA THỊ TRƯỜNG MỞ 1. Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương tham gia nghiệp vụ thị trường mở với tư cách là người tổ chức quản lý và điều hành hoạt động của thị trường. Với vai trò đó, Ngân hàng Trung ương soạn thảo, ban hành quy chế hoạt động của thị trường mở, xét duyệt hồ sơ và kết nạp các thành viên của thị trường, tổ chức các giao dịch mua bán giấy tờ có giá trên thị trường an toàn, chính xác cũng như đảm bảo quyền lợi cho các thành viên. Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương còn tham gia thị trường với tư cách thành viên, nghĩa là tham gia mua, bán với các thành viên còn lại của thị trường và các hoạt động này nhằm đạt mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Đối tác của Ngân hàng Trung ương 1. Các ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới rộng lớn. Các ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nên kinh tế nhất là các nước đang phát triển. Hơn nữa, ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ.
Các ngân hàng thương mại là thành viên chủ yếu tham gia nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung ương. Các ngân hàng thương mại tham gia thị trường nhằm điều hòa vốn khả dụng, đảm bảo khả năng thanh toán, cho vay khoản vốn dư thừa để hưởng lãi. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Ngoài ngân hàng thương mại là đối tác chủ yếu và thường xuyên của Ngân hàng Trung ương trên thị trường mở, còn có các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm các công ty tài chính, các công ty cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư.