MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống ngân hàng đƣợc ví nhƣ huyết mạch của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động một cách thông suốt, lành mạnh là tiền đề để các nguồn lực tài chính đƣợc luân chuyển, phân bổ và sử dụng có hiệu quả , từ đó kích thích tăng trƣởng kinh tế một cách bền vững. Tuy nhiên bên cạnh vai trò to lớn đó, ngƣời ta không thể không nói tới những “ tổn thất ” và " hậu quả ” nặng nề mà hệ thống ngân hàng có thể gây ra nếu nhƣ các hoạt động của chúng trở nên " trục trặc ”.
Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng có thể tạo ra phản ứng dây chuyền , kéo theo đó là sự sụp đổ của cả hệ thống. Nhắc tới nguyên nhân của khủng hoảng tài chính , phải nhắc tới những rủi ro trong hoạt động ngân hàng mà tâm điểm của nó là những rủi ro phát sinh trong hoạt động tín dụng. Bài học về các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên các thị trƣờng tài chính - tiền tệ lớn trên thế giới nhƣ Mỹ, Nhật, Trung Quốc. cho thấy việc các ngân hàng thƣơng mại chủ động ứng phó với các rủi ro và xây dựng cho mình những chiến lƣợc quản trị rủi ro là thực sự cần thiết Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với các khoản Nợ xấu ( non - performing loan ) , đó là các khoản nợ không còn khả năng sinh lời hay không có khả năng thu hồi.
Bởi vậy , quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng là quản lý các khoản nợ xấu. Việc quản lý để ngăn ngừa những khoản nợ xấu phát sinh cũng nhƣ có những biện pháp để xử lý đã và đang trở thành vấn đề quan trọng hiện nay trong hoạt động tài chính ngân hàng. Xu hƣớng tự do hoá thƣơng mại và tự do hoá tài chính ngày càng rộng khắp , mạnh mẽ đã và đang chi phối khuynh hƣớng , cấu trúc vận động của hệ thống tài chính , NHTM Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt không chỉ riêng ở thị trƣờng trong nƣớc mà còn ở nƣớc ngoài.
Bởi vậy các NHTM Việt Nam cần phải có những hoạch định riêng cho mình nhằm đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên trƣờng quốc tế. Hiện nay cùng với xu hƣớng phát triển chung trong lĩnh vực ngân hàng , hệ thống NHTM Việt Nam đã mở rộng phạm vi hoạt động theo hƣớng tăng tỷ trọng dịch vụ phi tín dụng. Tuy nhiên chúng ta vẫn không thể phủ nhận rằng hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tại và trong tƣơng lai tín dụng và đem lại nguồn thu chính cho các ngân hàng này. Do vậy, kiểm soát chất lƣợng tín là yêu cầu cần thiết trong quản trị ngân hàng , với mục tiêu đảm bảo cho hoạt động tín dụng an toàn , hiệu quả.
Các quốc gia trên thế giới và các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ Ngân hàng thế hơn (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) hay uỷ ban Basel đã quan tâm rất nhiều đến việc quản lý nợ xấu khi xây dựng chiến lƣợc kiểm soát rủi ro tín dụng. Việc phát sinh nhiều khoản thiệt hại đáng kể do thực hiện những khoản tín dụng kém hiệu quả đã khiến các ngân hàng ngày càng chú trọng hơn đến quản lý nợ xấu. Quản lý nợ xấu một cách có hệ thống giúp nhận biết các khoản nợ xấu , từ đó có thể phòng ngừa hay xử lý nó hiệu quả hơn. Ở Việt Nam, nợ xấu chỉ thực sự bắt đầu đƣợc quan tâm đúng mức trong vài năm gần đây.
Các kết quả nghiên cứu đã gây ra mối lo ngại lớn về rủi ro tín dụng đối với các nhà quản trị ngân hàng cũng nhƣ các nhà hoạch định chính sách. Nợ xấu hiện này nhƣ cục máu đông trong mạch máu, nên có bơm đến mấy, máu tín dụng vẫn không thể chảy đƣợc. Nợ xấu ở mức cao trở thành gánh nặng của các NHTM, làm chậm quá trình đổi mới và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Nếu không đƣợc quản lý nghiêm túc nó sẽ tiếp tục gây ra nhiều thiệt hại lớn cho hệ thống NHTM Việt Nam, giảm lợi thế cạnh tranh trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế.
Chính bởi vậy, việc quản lý nợ xấu đang đƣợc Ngân hàng nhà nƣớc và các NHTM Việt Nam ráo riết thực hiện nhằm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng , giải tỏa tắc nghẽn cho hệ thống tín dụng. Tuy nhiên , câu hỏi đặt ra là quản lý nợ xấu sẽ đƣợc thực hiện bằng cách nào để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả ? Xuất phát từ thực trạng trên, ngƣời viết đã chọn vấn đề : “Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các NHTM để qua đó thấy rõ những nguyên nhân và các tác động của nó. Đƣa ra những phân tích và đánh giá về thực trạng nợ xấu, thực trạng công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu.
Từ kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các nƣớc trên thế giới và điều kiện của Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu phù hợp cho ngành ngân hàng Việt Nam, cùng với kiến nghị đối với các chủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 thể có liên quan. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU − Nội dung của công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu? Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện phòng ngừa và xử lý nợ xấu nhƣ thế nào? − Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM ra sao? Nguyên nhân gây ra nợ xấu là gì? Quá trình phòng ngừa và xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM đã thực sự hiệu quả hay chƣa? − Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác xử lý nợ xấu của các NHTM? − Hƣớng đi nào với những giải pháp cụ thể ra sao là khả thi dành cho hệ thống ngân hàng trong công tác phòng ngừa và xử lý dứt điểm nợ xấu? 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu: Những khía cạnh thuộc về cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ xấu của các NHTM và công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu. Phạm vi nghiên cứu: Chỉ tập trung vào nội dung phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các NHTM, không bao gồm tất cả các vấn đề về rủi ro tín dụng; các số liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu đƣợc thu thập chung cho toàn hệ thống ngân hàng và một số ngân hàng cụ thể trong giai đoạn 2014 - 2018.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Vận dụng các phƣơng pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích và diễn giải quy nạp để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Các mục tiêu nghiên cứu của công trình này đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng các phƣơng pháp phân tích lý thuyết. Trong đó, phân tích lý thuyết bao gồm việc phân tích các công trình nghiên cứu trƣớc đây, dựa trên những nguồn tài liệu thứ cấp khác nhau (Secondary Data); sử dụng công cụ Microsoft Excel để tạo lập các bảng tính thu thập dữ liệu và xây dựng các đồ thị phân tích; Microsoft Word để viết lại các kết quả; Kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn nhằm làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu, nêu lên những vấn đề cơ bản về nợ xấu và phòng ngừa, xử lý nợ xấu, phân tích tình hình hiện nay để từ đó đề ra các giải pháp hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Là một biến số kinh tế đƣợc nhiều quốc gia quan tâm, do đó các đề tài về nợ xấu cho đến nay cũng đã đƣợc nhiều tác giả, học giả trong và ngoài nƣớc lấy làm đề tài nghiên cứu phân tích. Nhìn chung, liên quan đến nợ xấu ở Việt nam thì hầu nhƣ chỉ tập trung vào các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc do vốn dĩ Việt Nam luôn có những đặc thù riêng. Đồng thời các nghiên cứu này phần nhiều vẫn là các bài báo, bài viết trên các tạp chí khoa học, các tranh luận ở hội thảo khoa học nhƣ: Bùi Bảo Ngọc (2012), Tình hình nợ xấu của Việt nam và một số giải pháp khắc phục, Tạp chí Thông tin và dự báo kinh tế xã hội, số 81, 2012; Lê Quốc Phƣơng (2013), Bàn về giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 9, 2013; Nguyễn Thị Mùi (2012), Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ, Tạp chí Tài chính, số 11, 2012. Một số đề tài nghiên cứu chuyên sâu về nợ xấu ở Việt Nam trong thời gian gần đây: Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê thị Hoài Diễm (2012), Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đức Toàn (2013), Giải pháp hạn chế nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần niêm yết tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Lâm Phú (2014), Giải pháp hạn chế nợ xấu tại hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Huệ (2014), Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam.
Nhƣ vậy, vấn đề nợ xấu đã đƣợc nghiên cứu khá nhiều, tuy nhiên khi xem xét nội dung thì tác giả nhận thấy: − Thứ nhất: Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu công tác phòng ngừa sự phát sinh của nợ xấu hoặc các giải pháp về xử lý các khoản nợ xấu, chứ chƣa có sự kết hợp toàn diện giữa hai vấn đề này. Trong khi đó thực tiễn đòi hỏi phải quản lý nợ xấu đồng thời trên cả hai giác độ cả phòng ngừa và xử lý những khoản nợ xấu cho hệ thống ngân hàng. − Thứ hai: Một số công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một ngân hàng cụ thể mà chƣa mở rộng ra phạm vi toàn bộ hệ thống ngân hàng. − Thứ ba: Một số các nghiên cứu tập trung vào phân tích các nhân tố tác động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.