Chương 1: Cơ sở lý luận vẻ lãi suất cho vay. Chương 2: Thực trạng công tác định giá tiền vay tại các NHTM Việt Nam và tại CN NH ĐT&PT Gia Lai. Chương 3: Xây dựng các yếu tố để hoàn thiện phương pháp xác định lãi suất cho vay qua đánh giá tín dụng tại CN NH ĐT&PT Gia Lai. te 4 Phần kết luận - một số vấn để rút ra sau quá trình nghiên cứu va điểm mới của đề tài.
4 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE LAI SUAT CHO VAY 1. KHAL NIEM LAI SUAT: Lợi tức tín dụng chính là khoản tiền phải trả cho việc mua quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Xét về bản chất, lợi tức tín dụng là giá trị quyển sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người đi vay phải trả cho người cho vay. Tỷ lệ phần trăm giữa lợi tức tín dụng với toàn bộ vốn gốc đã vay mượn hay khoản tín dụng trong một thời gian nhất định chính là lãi suất.
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp và đa dạng. Lãi suất chịu ảnh hướng của nhiều nhân tố, bên cạnh đó lãi suất tác động đến sự phát triển của nên kinh tế nên nó mang tính chất tông hợp. Mặt khác, lãi suất mang tính đa dạng do xuất phát từ sự đa dạng của các loại tín dụng khác nhau trong nên kinh tế thị trường như: lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu; lãi suất cầm cố giấy tờ có giá; lãi suất trái khoán công ty; lãi suất trái phiếu kho bạc; lãi suất huy động tiết kiệm; lãi suất cho vay .với những cách thức đo lường khác nhau. Lãi suất là một phạm trù giá cả, sự biến động của lãi suất chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu.
Lãi suất hội tụ nhiêu mối quan hệ, các mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến lợi ích vật chất trong xã hội. Nhà kinh tế học người Pháp A Poial khăng định "Lãi suất là công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời cũng là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng”[7]. Khi bàn về bản chất của lãi suất, người ta thường đề cập đến quan niệm của Mác: Thông qua hình thức biểu hiện, lãi suất là giá cả của vốn cho vay như một loại hàng hóa, giá cả của hàng hóa biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa còn giá cả của vốn cho vay biểu hiện trực tiếp bằng lãi suất, Như vậy, lợi tức tín dụng là một phan của giá trị thang du ma nha tu ban san xuat thức giá cả ydn cho vay nhằm ¡ gian cho vay. ó một độ lớn nào quen gọi là lãi su Như là một lệt của lợi nhuận, lợi tức tín dụng © đó và độ At.
Lai y hién thông qua ty lệ phuận của nhà sản % ma người tâ xuất và trong mdi quan ay va người cho vay. pang voi ty suất lợi ì thiêu mà nhà tư tớn này được biể suất được hình thành ti ty suất lợi chia tông số tợi nhuận giữê người Y nệ tý lễ với sự phân mở rộng đến một 8 ici han tôi đa gần Vì vậy lãi suất CÓ thể nhà sản xuất hoặc đến một giới hạn tối trị thang dư, lãi nhận. Nguồn gốc Œ ur dung vốn. của lãi suất là giá h tế ứng dụng thì lất trên quan điểm kim tiền gởi tiết kiệm ¡nh tế hoe hiện dai như lãt suất lụng yon, 4 ban quyền sử ở ¡ để có một Sự tiêu ặc trưng co ban trong, hoạt động, có tạo được giả ai vay là trách nhiệm của người nó bộ ế nết sức quan trong, hia về mặt kinh tÊ viện hiện iệm này co y ng ở luận cho khái niỆ m về lãi suất cỦa Mac trong, diều + "ã¡ suất là giá thời gian nhất định” - {281 thì sit dung, sức mua quan điểm của P.
n vay trong một e David sg Kidwell ay tién cho quyền sử dụng một số tiề của nhà kinh tế họ op ai suat Aa cả của Sự Ý ệ % của số tiền vay". hẳn thưởng a có được một 5 an. Khong phai tắt jeu dung jon hơn cả của việc $ Theo quan điểm © là gá cả của SV thuê tiền, anh cho ật chính là một P én tai dé ky VOnS chính xác hoàn toa ự tiêu dùng lớn hơn trong, WORE lai không hẳn € vi tiết chế tiêu dùng hiện 1#) đều eee có thể có được † cả hành 6 trong tương lai. Bởi vì khoảng thời gian giữa tiết kiệm ở hiện tại và tiêu ding trong tương lai bị chỉ phối bởi nhiều yếu tổ khác nhau, có thể làm biến dạng hoặc triệt tiêu hoàn toàn khoản chênh lệch đương này ví dụ như lạm phát làm giảm sức mua của tiền tệ, rủi ro về khả năng hoàn tra.
Trong quan hệ vay vốn: lãi suất đối với người cho vay là mức lãi suất mà người cho vay đồng ý để giao quyền sử dụng vốn cho người vay; lãi suất đối với người đi vay là mức lãi suất mà người đi vay sẵn lòng trả cho người cho vay dé được quyền sử dụng vén trong một khoảng thời gian nhất định hay còn gọi là chỉ phí sử dụng vốn. Có 2 cách diễn giải như sau: — Lợi tức hay số tiền phải trả (interest) là chi phi biểu hiện bằng số tuyệt đối. Ví dụ như số tiễn cho vay là là 500 triệu đồng, thời hạn cho vay 1a 1 năm và số tiễn lãi phải trả là 60 triệu đồng. — Lãi suất (interest rate) là chỉ phí phải trả thể hiện theo tỷ lệ phần trăm (%), đây là quan hệ giữa tiền lãi phải trả, số tiền cho vay và thời hạn cho vay.
Vi dụ trên cho thấy lãi suất cho vay là 0,12 hay 12%/năm, lãi suất là tỷ lệ giữa tổng số tiền lãi thu được so với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian nhất định. Lãi suắt được thé hiện trên thị trường là lãi suất danh nghĩa, trong khi đó lãi suất thực là lãi suất được điều chỉnh lại đúng theo những thay đổi dự tính về giá. Theo Fisher thì: lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát. Như vậy, lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát.
Việc phân biệt lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng vì lãi suất thực phản ảnh chi phí thực của việc vay tiền. Lãi suất thực chứ không phải lãi suất danh nghĩa ảnh hưởng đến đầu tư, tái phân phối thu nhập giữa người vay, người cho vay và sự lưu thông của dòng vốn. CAC NHAN TO ANH HUONG DEN LAI SUAT CHO VAY: Lãi suất đổi với một khoản cho vay nảo đó được xác định trên cơ sở thị trường thông qua quá trình tác động qua lại giữa cung và cầu tiền vay. Do đó, trong nên kinh tế thị trường, lãi suất hay giá cả của khoản vay được xác định tại mức giao nhau của đường cung vốn vay và đường câu vốn vay.1: Lãi suất theo cang-cẫu von Đường cung vến Điểm cân T 8ï suất Đường cẩu vôn Lượng vốn Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố, nhưng đối với NHTM thì 4 yếu tố được xem là quan trọng nhất không thể thiểu khi xác định lãi suất cho vay là: — Bao gồm tất cả các chỉ phí huy động vốn.
— Bu dap cdc chi phí quản lý và thực hiện khoản vay. — Trang trải được các rủi ro trong hoạt động cho vay. ~ Mang lại phần lợi nhuận hợp lý cho NHTM. Bên cạnh đó, lãi suất cho vay còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như: sự cạnh tranh của các ngân hàng khác hoặc các TCTD phi ngân hàng; mối quan hệ, uy tín giữa ngân hảng và người đi vay; mục đích sử dụng tiền vay (vay công thương nghiệp, vay đầu tư kinh doanh bắt động sản, vay sản xuất nông nghiệp, vay tiêu dùng.); kỳ hạn cho vay (kỷ hạn càng dài thì lãi suất 8 càng cao do rủi ro trong việc hoàn trả nợ vay gia tăng); tình hình diễn biến của nền kinh tế (tăng trưởng GDP, lam phat, that nghiép.
Thực tế ở các nước cho thấy lãi suất cho vay thường chịu sự chỉ phối của thị trường vốn ngắn hạn và của các NHTM lớn. Bên cạnh đó, lãi suất thị trường còn chịu sự can thiệp của NHTW, tùy theo chính sách tiền tệ là thắt chặt hay mở rộng. Khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, NHTW sẽ có biện pháp điều tiết để gián tiếp tăng lãi suất thị trường nhằm hạn chế tín dụng, tăng lượng tiền gới tiết kiệm; và ngược lại khi muốn mở rộng tiên tệ, NHTW sẽ điều tiết để gián tiếp giảm lãi suất thị trường nhằm thu hút người vay, giảm lượng tiền gởi tiết kiệm. VAI TRO VA TAC DONG CUA LAI SUAT TRONG NEN KINH TE: Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN: Lãi suất hợp ly và mang tính chất ồn định giúp DN tính toản được lợi nhuận dự kiến thu về từ các phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư vì vậy nắm bắt và triển khai kịp thời các cơ hội kinh doanh.
Đẳng thời với một lãi suất hợp lý, các DN sẽ có lợi nhuận sau khi trừ đi chỉ phí trả lãi tiền vay, kích thích các DN mở rộng đầu tư, thực hiện tái sản xuất, đầy mạnh hoạt động kinh doanh. Trái lại, lãi suất bất hợp lý sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN: lãi suất quá thấp làm cho DN đẩy mạnh vay vốn quá mức, dẫn đến một số trường hợp không đảm bảo khả năng trả nợ vay; lãi suất quá cao dẫn đến DN dé dat, không dám vay vốn, mất cơ hội kinh doanh và NHTM bị uw dong nguồn vốn. Lãi suất là phương tiện trung gian trong điều hành kinh tế vĩ mô: sự thay đổi của lãi suất tác động đến cân đối cung cầu hàng hóa. Điều I6-Luật Ngân hang nhà nước: “Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia NHNN sử dụng các công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hồi đoái, dự 9 trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác do Thống đốc quyết định”.
Như vậy lãi suất cũng là một trong những công cụ dé điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.