Tổng quan nghiên cứu

Khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á giai đoạn 1997-1998 từng khiến đồng Baht Thái Lan giảm giá gần 100% và đồng Rupiah Indonesia mất giá trên 200%, gây chấn động toàn diện tới các nền kinh tế mới nổi. Trong bối cảnh đầy thách thức đó, Việt Nam vẫn kiên định duy trì tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1997 ở mức 9.269 triệu USD, đạt mức tăng trưởng 26% so với năm 1996 nhờ chính sách điều hành tỷ giá kịp thời. Tỷ giá hối đoái luôn đóng vai trò là biến số kinh tế vĩ mô cốt lõi, điều tiết trực tiếp cán cân thương mại quốc tế, dòng vốn đầu tư và mức giá nội địa. Trước thềm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11 năm 2006, thị trường tiền tệ non trẻ của Việt Nam phải đối mặt với áp lực kép: vừa phải duy trì sự ổn định tỷ giá nhằm kiềm chế lạm phát, vừa phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu trên trường quốc tế. Cơ chế tỷ giá cố định áp đặt bằng các biện pháp hành chính trong giai đoạn trước bộc lộ nhiều hạn chế, khiến đồng nội tệ có thời điểm bị định giá cao, gây thâm hụt thương mại và kích thích tâm lý găm giữ ngoại tệ.

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế hình thành và biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và Đôla Mỹ (VND/USD) trong giai đoạn từ tháng 7 năm 1997 đến tháng 6 năm 2010. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích các giai đoạn chuyển đổi cơ chế tỷ giá, đánh giá tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại, lạm phát và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở luận cứ giúp các nhà hoạch định chính sách kiểm soát thâm hụt thương mại, đưa tỷ lệ nhập siêu từ mức -12,8% GDP năm 2003 giảm về -8,8% GDP năm 2006, đồng thời củng cố năng lực can thiệp thị trường của Ngân hàng Nhà nước khi dự trữ ngoại tệ tăng từ 2,711 tỷ USD năm 1999 lên 11,5 tỷ USD vào năm 2006.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế quốc tế kinh điển:

Thứ nhất, Lý thuyết đường cong chữ J (J-curve effect) phân tích tác động trễ của việc phá giá tiền tệ đối với cán cân thương mại. Khi một quốc gia chủ động giảm giá đồng nội tệ, cán cân thương mại có xu hướng xấu đi trong ngắn hạn do các hợp đồng xuất nhập khẩu đã ký kết chưa kịp điều chỉnh giá trị, trước khi người tiêu dùng và nhà sản xuất trong và ngoài nước thay đổi hành vi tiêu dùng để tạo ra thặng dư thương mại bền vững.

Thứ hai, Lý thuyết phân loại chế độ tỷ giá hối đoái theo chuẩn mực của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Theo báo cáo thống kê năm 2001 của IMF đối với 186 quốc gia thành viên, có 55,4% số nước áp dụng chế độ tỷ giá cố định, 23,1% áp dụng chế độ thả nổi tự do và 21,5% lựa chọn chế độ tỷ giá hỗn hợp (thả nổi có quản lý). Chế độ tỷ giá hỗn hợp được chứng minh là phù hợp nhất với các nền kinh tế đang chuyển đổi, cho phép Ngân hàng Trung ương can thiệp vào những thời điểm thị trường có biến động vượt ngưỡng cho phép.

Thứ ba, Lý thuyết bộ ba bất khả thi (Mundell-Fleming Model) khẳng định một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cả ba mục tiêu: tỷ giá hối đoái cố định, tự do hóa dòng vốn và chính sách tiền tệ độc lập. Để đảm bảo ổn định vĩ mô, cơ quan quản lý buộc phải kết hợp hài hòa các công cụ như lãi suất tái chiết khấu, quỹ dự trữ bình ổn hối đoái và các rào cản hành chính.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được định hình chặt chẽ theo khung khổ pháp lý hiện hành, cụ thể là Nghị định số 160/2006/NĐ-CP và Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/06/2006). Tỷ giá hối đoái được định nghĩa chuẩn xác là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. Nghiên cứu phân biệt rõ giữa tỷ giá giao ngay (Spot rate), tỷ giá kỳ hạn (Forward rate), tỷ giá chính thức, tỷ giá bình quân liên ngân hàng và tỷ giá thị trường tự do, qua đó làm rõ bản chất của hiện tượng đô la hóa trong nền kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi số liệu thời gian thứ cấp liên tục kéo dài 13 năm (từ tháng 7 năm 1997 đến tháng 6 năm 2010). Mẫu quan sát bao quát 54 kỳ dữ liệu quý và hơn 150 quan sát theo tháng về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô then chốt: tỷ giá VND/USD danh nghĩa, biên độ dao động công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tốc độ tăng trưởng GDP, cán cân tài khoản vãng lai, kim ngạch xuất nhập khẩu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Dữ liệu được trích xuất chính thống từ các niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và hệ thống dữ liệu thống kê tài chính quốc tế của IMF.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ theo chuỗi thời gian liên tục từ hai mốc bản lề mang tính bước ngoặt lịch sử: cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (tháng 7 năm 1997) và thời điểm mở cửa hội nhập WTO (từ tháng 11 năm 2006 đến giữa năm 2010). Phương pháp này giúp loại trừ hiện tượng sai lệch mẫu do chọn lọc ngẫu nhiên, đảm bảo nắm bắt đầy đủ các cú sốc ngoại sinh và phản ứng điều chỉnh chính sách nội tại của Việt Nam.

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả, so sánh đối chiếu đa biến và phân tích định tính lịch sử thể chế. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này xuất phát từ bản chất phức tạp của chính sách tiền tệ: tỷ giá không biến động đơn lẻ mà chịu sự chi phối đan xen của các quyết định hành chính và diễn biến thị trường tự do. Việc đối chiếu các mốc thay đổi biên độ tỷ giá với các biến số xuất nhập khẩu và nợ quốc gia giúp đo lường định tính chính xác mức độ hiệu quả của từng can thiệp chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng giai đoạn 1997-2010 đã mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, việc chủ động phá giá tiền tệ có kiểm soát đã bảo vệ thành công vị thế xuất khẩu của Việt Nam trước các cú sốc khu vực. Trong năm 1998, Ngân hàng Nhà nước đã hai lần điều chỉnh tỷ giá chính thức: ngày 14/02/1998 nâng từ 11.175 lên 11.800 VND/USD và ngày 07/08/1998 nâng lên 11.998 VND/USD (tương đương phá giá 9,2%), đồng thời hạ biên độ giao dịch từ +/-10% xuống +/-7%. Tính chung cả năm 1998, tỷ giá chính thức tăng khoảng 16%, giúp duy trì kim ngạch xuất khẩu đạt 9.300 triệu USD. Sang năm 1999, xuất khẩu bứt phá tăng trưởng 23,2% đạt 11.540 triệu USD, giúp cán cân thương mại lần đầu tiên sau một thập kỷ chuyển sang thặng dư ở mức 1.080 triệu USD.

Thứ hai, việc ban hành Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN và Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN ngày 24/02/1999 là bước ngoặt mang tính lịch sử, thay thế tỷ giá chính thức cứng nhắc bằng cơ chế công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với biên độ +/-0,1%. Cơ chế mới đã thu hẹp căn bản khoảng cách giữa thị trường chính thức và thị trường tự do. Điển hình vào tháng 9 năm 2004, tỷ giá mua bán của các ngân hàng thương mại xoay quanh 15.760 VND/USD, trong khi thị trường tự do ở mức 15.770 VND/USD; mức chênh lệch được thu hẹp về con số không đáng kể (khoảng 10 VND/USD).

Thứ ba, sự đánh đổi sâu sắc giữa kích thích xuất khẩu và gia tăng gánh nặng nợ công nước ngoài. Mặc dù việc định giá VND cạnh tranh đã kéo thâm hụt cán cân thương mại từ mức -12,8% GDP năm 2003 giảm về -8,8% GDP năm 2006 và thâm hụt vãng lai từ -4,9% GDP xuống -0,3% GDP, chính sách này lại tạo áp lực trả nợ nặng nề. Tính đến tháng 10 năm 1998, với quy mô nợ nước ngoài 22 tỷ USD, việc điều chỉnh tỷ giá đã làm phát sinh thêm 42,86 triệu USD tiền lãi, tổng chi phí gia tăng lên tới 60,72 triệu USD, đẩy nhiều doanh nghiệp vay nợ ngoại tệ vào trạng thái căng thẳng tài chính.

Thứ tư, tình trạng đô la hóa và tâm lý găm giữ ngoại tệ gia tăng rõ rệt trong các giai đoạn tỷ giá biến động mạnh. Do chênh lệch lãi suất và tâm lý bảo toàn giá trị tài sản, tỷ lệ tiền gửi bằng USD trên tổng tiền gửi ngân hàng đã tăng mạnh từ mức 33% năm 1997 lên 36,6% năm 2000 và đạt đỉnh 41% vào năm 2001. Trái lại, tỷ trọng dư nợ vay bằng ngoại tệ trên tổng dư nợ lại giảm từ 31,3% năm 1997 xuống 21% năm 2001, tạo ra sự mất cân đối kỳ hạn và cấu trúc nguồn vốn trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hiện tượng trên bắt nguồn từ cơ chế điều hành tỷ giá thả nổi có quản lý của Việt Nam vẫn mang đậm yếu tố can thiệp hành chính. Việc neo tỷ giá danh nghĩa tương đối chặt vào USD trong thời gian dài đã khiến VND bị định giá cao trong các giai đoạn đồng USD lên giá trên thị trường quốc tế, dẫn đến nguy cơ thâm hụt thương mại tích tụ. Khi chịu sức ép điều chỉnh, việc phá giá với biên độ lớn thường gây ra các cơn sốc tâm lý, khiến dòng tiền chuyển hướng từ nội tệ sang ngoại tệ.

Khi so sánh với kinh nghiệm của các quốc gia lân cận trong cuộc khủng hoảng năm 1997, chính sách tỷ giá của Việt Nam thể hiện tính ưu việt về mặt kiểm soát rủi ro hệ thống. Thái Lan, Philippines và Indonesia do duy trì cơ chế neo tỷ giá cố định quá cứng nhắc đã bị cạn kiệt dự trữ ngoại hối khi đối mặt với các đợt tấn công đầu cơ, buộc phải thả nổi đồng tiền hoàn toàn và chịu tổn thất nặng nề (Rupiah Indonesia mất giá trên 200%). Ngược lại, Việt Nam đã chủ động nới rộng biên độ dao động linh hoạt (từ +/-1% lên +/-5%, rồi +/-10% năm 1997) và từng bước thống nhất hai tỷ giá tương tự như bài học thành công của Trung Quốc giai đoạn 1994-1996, nhờ đó bảo vệ an toàn hệ thống ngân hàng nội địa.

Để tối ưu hóa khả năng truyền đạt học thuật, toàn bộ các phát hiện thực chứng trên có thể được minh họa trực quan thông qua hai công cụ trình bày:

  • Biểu đồ đường kép kết hợp cột (Dual-axis Chart): Trục bên trái thể hiện đường biến động tỷ giá bình quân liên ngân hàng VND/USD và tỷ giá tự do (1997-2010), trục bên phải thể hiện các cột tốc độ tăng trưởng GDP theo từng quý (dao động từ 4,8% năm 1999 lên 8,4% năm 2005). Sự kết hợp này làm nổi bật mối tương quan đồng pha giữa việc nới biên độ tỷ giá và sự phục hồi tăng trưởng kinh tế.
  • Bảng tổng hợp diễn tiến vĩ mô: Đối chiếu các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu, cán cân thương mại và quy mô dự trữ ngoại hối (tăng từ 5,6 tỷ USD năm 2003 lên 11,5 tỷ USD năm 2006), cho phép người đọc nhận diện rõ ràng thời điểm phát huy tác dụng của chính sách theo mô hình chữ J.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá tại Việt Nam:

Một là, chuyển đổi linh hoạt cơ chế neo tỷ giá từ đơn tệ sang rổ tiền tệ đa phương. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ trì xây dựng chỉ số tỷ giá hiệu dụng thực tế (REER) dựa trên rổ tiền tệ của 8 đối tác thương mại lớn nhất (USD, EUR, JPY, CNY, THB, SGD, KRW, GBP). Cơ quan quản lý cần chủ động điều hành biên độ dao động tỷ giá hàng ngày thay vì duy trì các mức biên độ cố định dài hạn, hướng tới mục tiêu kiểm soát mức biến động tỷ giá danh nghĩa trong ngưỡng 2% đến 3% mỗi năm, thực thi liên tục trong giai đoạn 2011-2015.

Hai là, mở rộng quy mô quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia và nâng cao năng lực can thiệp thị trường. Chính phủ phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tận dụng tối đa các giai đoạn thặng dư dòng vốn đầu tư gián tiếp và kiều hối để mua gom ngoại tệ, ngăn chặn áp lực tăng giá nóng của đồng nội tệ. Mục tiêu cụ thể là nâng quy mô dự trữ ngoại hối đạt mức tương đương từ 12 đến 14 tuần nhập khẩu (đạt quy mô trên 20 đến 25 tỷ USD) trước năm 2015, tạo bộ đệm an toàn vững chắc trước các cú sốc tài chính toàn cầu.

Ba là, triệt để loại bỏ hiện tượng đô la hóa và thu hẹp thị trường phi chính thức. Ngân hàng Nhà nước cần ban hành lộ trình chuyển dần quan hệ huy động - cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua - bán ngoại tệ trong toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Đơn vị điều hành cần áp dụng chính sách giảm dần trần lãi suất tiền gửi USD của cá nhân và doanh nghiệp về mức 0%, phấn đấu hạ tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ xuống dưới 15% tổng phương tiện thanh toán vào cuối năm 2015, xử lý dứt điểm các giao dịch niêm yết trái phép theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối.

Bốn là, thiết lập cơ chế phối hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá, chính sách tài khóa và chính sách lãi suất. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về các dòng vốn ngoại ngắn hạn ra vào lãnh thổ. Chính sách tỷ giá phải được điều chỉnh nhịp nhàng với lãi suất thị trường mở nhằm duy trì mức chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa VND và USD tối thiểu từ 2% đến 3%, vừa hỗ trợ xuất khẩu, vừa giữ vững mục tiêu kiềm chế lạm phát bình quân dưới 7% mỗi năm và duy trì thâm hụt thương mại dưới 5% GDP giai đoạn 2011-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Giá trị ứng dụng thể hiện ở việc nắm vững cơ chế truyền dẫn của các công cụ can thiệp tỷ giá trực tiếp và gián tiếp. Nghiên cứu cung cấp kịch bản hành động cụ thể để điều tiết biên độ giao dịch liên ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế hội nhập sâu rộng sau khi gia nhập WTO.

Thứ hai, đội ngũ lãnh đạo và chuyên viên kinh doanh nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại. Luận văn giúp các nhà quản trị nhận diện rõ quy luật thu hẹp chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do, từ đó xây dựng giải pháp định giá và phòng ngừa rủi ro cho các sản phẩm phái sinh như hợp đồng kỳ hạn (Forward) hay hợp đồng hoán đổi (Swap) với các ngoại tệ chủ chốt USD, EUR, JPY.

Thứ ba, giám đốc tài chính (CFO) và các nhà quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nghiên cứu hỗ trợ các doanh nghiệp đánh giá tác động hai chiều của việc điều chỉnh tỷ giá lên chi phí nhập khẩu nguyên liệu và doanh thu bán hàng quốc tế, từ đó giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn đồng tiền thanh toán hợp lý và giảm thiểu tổn thất trượt giá nợ vay nước ngoài.

Thứ tư, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng chuỗi thời gian, cung cấp hệ thống số liệu vĩ mô phong phú để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về hiệu ứng đường cong chữ J và chính sách tiền tệ mở.

Câu hỏi thường gặp

Cơ chế điều hành tỷ giá bình quân liên ngân hàng ngày 24/02/1999 mang lại bước đột phá nào? Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN đã chính thức bãi bỏ cơ chế ấn định tỷ giá hành chính của Ngân hàng Nhà nước, chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết. Nhờ áp dụng biên độ ban đầu +/-0,1% xoay quanh tỷ giá giao dịch bình quân thực tế của ngày hôm trước, thị trường phản ánh sát quy luật cung cầu ngoại tệ, góp phần đưa cán cân thương mại năm 1999 đạt thặng dư 1.080 triệu USD và xuất khẩu tăng 23,2%.

Việc phá giá đồng Việt Nam năm 1998 tác động như thế nào đến nghĩa vụ nợ quốc gia? Dù chính sách phá giá khoảng 16% trong năm 1998 kích thích xuất khẩu phục hồi, nó làm phát sinh thêm gánh nặng tài chính đáng kể đối với khu vực vay nợ nước ngoài. Tính đến tháng 10 năm 1998, sự trượt giá của VND so với quy mô nợ nước ngoài 22 tỷ USD đã làm tăng thêm 42,86 triệu USD tiền lãi, nâng tổng chi phí tài chính phát sinh lên 60,72 triệu USD đối với các doanh nghiệp có vốn vay quốc tế.

Tình trạng đô la hóa trong hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1997-2001 diễn biến ra sao? Do tâm lý lo ngại rủi ro mất giá tiền tệ sau khủng hoảng khu vực, tỷ lệ tiền gửi USD trên tổng tiền gửi ngân hàng đã gia tăng nhanh chóng từ mức 33% năm 1997 lên 36,6% năm 2000 và 41% năm 2001. Ngược lại, tỷ lệ dư nợ cho vay ngoại tệ giảm từ 31,3% xuống 21%, gây ứ đọng thanh khoản ngoại tệ và đặt ra thách thức lớn cho việc quản trị tài sản có - tài sản nợ tại các ngân hàng.

Lý thuyết đường cong chữ J được minh chứng như thế nào qua thực tiễn thương mại Việt Nam? Lý thuyết chỉ ra rằng tác động của phá giá tiền tệ thường làm xấu cán cân thương mại trong ngắn hạn trước khi tạo thặng dư. Thực tế tại Việt Nam, sau hai lần phá giá liên tiếp năm 1998, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ nhích nhẹ từ 9.269 triệu USD lên 9.300 triệu USD trong khi nhập khẩu giảm 4,8%; phải đến năm 1999, hiệu ứng chữ J mới phát huy toàn diện khi xuất khẩu tăng vọt 23,2%, tạo ra thặng dư thương mại 1.080 triệu USD.

Ngân hàng Nhà nước đã xử lý làn sóng vốn ngoại đổ mạnh vào Việt Nam sau khi gia nhập WTO ra sao? Năm 2007, khi lượng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt mức kỷ lục 20 tỷ USD gây sức ép tăng giá nóng cho VND, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động ban hành Quyết định số 2554/QĐ-NHNN nới biên độ lên +/-0,5%. Đồng thời, cơ quan quản lý phát hành nội tệ mua vào lượng ngoại tệ dư thừa, vừa chặn đứng đà tăng giá gây hại cho xuất khẩu, vừa tích lũy nguồn dự trữ ngoại tệ vượt mốc 11,5 tỷ USD của năm 2006.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã đúc kết và khẳng định năm kết quả cốt lõi trong tiến trình cải cách chính sách tiền tệ quốc gia:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về các chế độ tỷ giá, làm rõ tính phù hợp của cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý đối với nền kinh tế mở cửa.
  • Đánh giá khách quan tác động của các mốc nới biên độ tỷ giá từ giai đoạn khủng hoảng Đông Nam Á năm 1997 đến mốc gia nhập WTO năm 2006 đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
  • Phân tích sâu sắc tính hai mặt của việc giảm giá đồng nội tệ: vừa thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và cải thiện cán cân vãng lai, vừa làm gia tăng chi phí trả nợ nước ngoài và kích thích tâm lý đô la hóa.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp hành động cụ thể về việc điều hành tỷ giá theo rổ tiền tệ và mở rộng quy mô quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia đạt mức an toàn tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu.
  • Khẳng định vai trò của việc lành mạnh hóa môi trường tài chính tiền tệ, tạo nền tảng vững chắc giúp giảm tỷ lệ nợ nước ngoài từ 71,4% GDP năm 1999 xuống còn 38,3% GDP năm 2002.

Về lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2011-2015, cơ quan quản lý tiền tệ cần từng bước hoàn thiện khung pháp lý để chuyển đổi từ cơ chế điều hành theo biên độ giao dịch sang cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt hàng ngày, gắn liền với việc phát triển đồng bộ thị trường vốn phái sinh.

Các phát hiện thực chứng trong công trình này là nguồn tài liệu quý báu, khuyến khích các chuyên gia tài chính, nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp xuất nhập khẩu khai thác và ứng dụng trực tiếp vào công tác quản trị rủi ro tỷ giá và xây dựng chiến lược ngoại thương hiệu quả.