chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng tại các NHTMCP. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 2.1 Ngân hàng thương mại NHTM là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất và có số lượng rất lớn trong nền kinh tế. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế xã hội và ngược lại.
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khoản 2 điều 20: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.”Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Từ những định nghĩa trên về ngân hàng, có thể rút ra được ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên.2 Các hoạt động của NHTM Hoạt động huy động vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Trong hoạt động này NHTM được sử dụng các công cụ và biện pháp mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: - Nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá. - Vay vốn - Huy động vốn khác Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động tín dụng của NHTM bao gồm: - Cho vay - Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá.
- Bảo lãnh ngân hàng. - Cho thuê tài chính. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán. - Dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
- Dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý. - Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ các tổ chức và cá nhân. - Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Các sản phẩm khác như: tư vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc… Các hoạt động khác - Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác từ nguồn vốn tự có để đa dạng hóa danh mục đầu tư, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của NHNN. - Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm. - Hoạt động dịch vụ chứng khoán.
- Các hoạt động khác như: bảo quản vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê két, dịch vụ cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.2 Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại 2.1 Thực thi chính sách tiền tệ Trong nền kinh tế, Ngân hàng trung ương là cơ quan có nhiệm vụ hoạch định các chính sách tiền tệ với các công cụ chính như các quy định về lãi suất, quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, điều chỉnh mức lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, các hoạt động điều tiết trên thị trường mở,. Trong khi đó, NHTM sẽ là các chủ thể chịu tác động trực tiếp của các công cụ điều chỉnh trên; đồng thời các NHTM sẽ có vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động chính sách tiền tệ đến nền kinh tế. Ngược lại, thông qua NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, các thông tin của nền kinh tế sẽ được phản hồi về cho ngân hàng trung ương để từ đó, ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh những chính sách tiện tệ một cách thích hợp đối với nền kinh tế 2.2 Cung cấp vốn cho nền kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Vốn được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong một nền kinh tế. Do đó, nếu muốn có nhiều vốn thì phải tăng thu nhập quốc dân và các chi phí từ việc tiêu dùng phải được cân đối hợp lý.
Mặt khác, nền kinh tế ngày một phát triển sẽ càng tạo ra nhiều nguồn vốn. Điều đó sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Tóm lại, ngân hàng thương mại là các chủ thể phần lớn đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.3 Cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp luôn chịu tác động đáng kể từ các quy luật kinh tế mang tính chất khách quan như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất dựa trên sự đáp ứng nhu cầu cho thị trường thông qua các hợp đồng tín dụng, cho vay. Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường.
Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo doanh thu và lợi nhuận thông qua nhu cầu của thị trường, từ đó tạo cho doanh nghiêp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.4 Công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, một trong các công cụ để nhà nước điều tiết các hoạt động vĩ mô nền kinh tế chính là thông qua các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại. Với nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán trong hệ thống các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thương mại sẽ góp phần mở rộng lượng cung tiền trong lưu thông của nền kinh tế. Với việc cung ứng tín dụng cho các chủ thể của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại sẽ điều tiết các dòng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, phân phối tiền tệ một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô kinh tế: “Nhà nước dẫn dắt ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.5 Cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Trong nền kinh tế thị trường, việc mở rộng các mối quan hệ hàng hóa – tiền tệ sẽ làm gia tăng nhu cầu trao đổi kinh tế, giao thương giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng. Do vậy, nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải mở cửa, hội nhập với nền tài chính quốc tế.
Khi đó, các NHTM cùng các hoạt động kinh doanh của mình sẽ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hội nhập kinh tế. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, các nghiệp vụ thanh toán, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hợp đồng thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, quan hệ tín dụng với các ngân hàng nước ngoài, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ có vai trò điều tiết nền tài chính trong nước theo hướng phù hợp với xu hướng vận động chung của nền tài chính quốc tế. Tóm lại, vai trò chính của hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: Thứ nhất, ngân hàng thương mại là công cụ quan trọng thúc đẩy, phát triền của sản xuất lưu thông hàng hóa.
Thông qua chức năng huy động vốn, cùng với vai trò làm trung gian thanh toán. Ngân hàng thương mại giống như một “chất bôi trơn” luân chuyển làm cho bộ máy kinh tế hoạt động hiệu quả. Thứ hai, là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương, đề điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế vỹ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Hầu hết, công cụ thực hiện chính sách tiền tệ hoạt động có hiệu quả của các ngân hàng thương mại cũng như việc chấp hành qui định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư.3 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Định nghĩa tín dụng được xuất phát từ tiếng Latinh, có nghĩa là credo, tức là sự tin tưởng, sự tín nhiệm lẫn nhau.
Trên các góc độ khác nhau, khái niệm về tín dụng được hiểu như sau: - Tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàn trả.