Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Tân Bình Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Tân Bình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Giai đoạn trước COSO 1992 Trước năm 1992, kiểm soát nội bộ đã được nhắc đến khá nhiều. Lần đầu tiên khái niệm về kiểm soát nội bộ được đưa ra là vào năm 1929 bởi Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ. Lúc này, kiểm soát nội bộ chỉ được hiểu một cách đơn giản. Đó là biện pháp giúp tiền không bị các nhân viên gian lận, bảo vệ tài sản không bị thất thoát, ghi chép kế toán chính xác, tuân thủ chính sách của nhà quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Năm 1936, Định nghĩa kiểm soát nội bộ lần đầu được công bố: Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách. Định nghĩa này được đưa ra bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ. Đến năm 1949, công trình nghiên cứu đầu tiên về Kiểm soát nội bộ đã được công bố cũng bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ. Đó là đề tài: “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập.
Sau Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, Ủy ban Thủ tục kiểm toán đã dành sự quan tâm lớn cho Kiểm soát nội bộ. Bằng chứng chính là Ủy ban này đã ban TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hành những thủ tục kiểm toán liên quan đến Kiểm soát nội bộ qua các năm. Đó là: thủ tục kiểm toán số 29 ban hành năm 1958 với tên gọi “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập” trong đó lần đầu phân biệt kiểm soát nội bộ về kế toán và kiểm soát nội bộ về quản lý. Đến năm 1962, vấn đề Kiểm soát nội bộ về kế toán và quản lý lại được xem xét kỹ hơn, cụ thể hơn qua thủ tục kiểm toán số 33.
Theo đó, Kiểm toán viên độc lập trước tiên nên quan tâm đến Kiểm soát nội bộ về kế toán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến các thông tin tài chính. Vì thế, Kiểm toán viên độc lập cần phải đánh giá kiểm soát nội bộ đối với hoạt động này. Kiểm soát nội bộ về quản lý thường chỉ liên quan gián tiếp đến các thông tin tài chính nên kiểm toán viên không bị buộc phải đánh giá hoạt động này. Như để làm rõ thêm về Kiểm soát nội bộ, Ủy ban thủ tục kiểm toán ban hành thủ tục kiểm toán số 54 vào năm 1972 có tên gọi “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ”.
Thông qua thủ tục kiểm toán này, Ủy ban thủ tục kiểm toán đã đưa ra 4 thủ tục kiểm soát kế toán: đảm bảo nghiệp vụ chi được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. Năm 1973, các thủ tục kiểm toán đã được thay thế bởi các chuẩn mực kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán số 1 lúc bấy giờ được ban hành bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đã xét duyệt lại thủ tục kiểm toán số 54 trước đó của Ủy ban Thủ tục kiểm toán, đồng thời đưa ra định nghĩa về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán. Tóm lai, giai đoạn trước COSO 1992, Kiểm soát nội bộ đã được xem xét khá nhiều nhưng khái niệm về kiểm soát nội bộ còn đơn giản và vấn đề về sự hiệu quả của Kiểm soát nội bộ vẫn còn là một bài toán lớn.
Bởi lẽ, nền kinh tế thế giới tăng trưởng và phát triển nhưng cũng đã có rất nhiều những vụ việc gian lận lớn xảy ra trong những năm của thập niên 70-80. Vấn đề này đòi hỏi phải có một khái niệm Kiểm soát nội bộ cụ thể hơn và phải nâng cao được vai trò của Kiểm soát nội bộ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Giai đoạn báo cáo COSO 1992 đến nay Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 bởi 5 tổ chức nghề nghiệp: - Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) - Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA) - Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI) - Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) - Hiệp hội kế toán viên nội bộ (IIA) Mỗi tổ chức nghề nghiệp trên đã chỉ ra một đại diện để lập ra Ủy ban COSO. Do tồn tại nhiều quan niệm và khái niệm khác nhau liên quan đến kiểm soát nội bộ nên cần có một tổ chức nghiên cứu về Kiểm soát nội bộ để có thể thống nhất về những vấn đề liên quan đến kiểm soát nội bộ nhằm phục vụ yêu cầu của những đối tượng khác nhau, bên cạnh đó có thể đưa ra các bộ phận cấu thành và giúp các doanh nghiệp xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu, đồng thời đưa ra những hướng dẫn nhằm giúp giảm thiểu sự khác biệt về các quan điểm liên quan đến Kiểm soát nội bộ.
Với mục tiêu trên của ủy ban COSO, báo cáo COSO 1992 là thành quả đáng ngưỡng mộ của các chuyên gia về kiểm soát nội bộ. Có thể nói đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra được khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Báo cáo COSO cũng đưa ra những bộ phận của kiểm soát nội bộ. Đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Báo cáo COSO 1992 bao gồm 4 phần: Phần 1: Bản tóm lược: Tổng quan về kiểm soát nội bộ cho nhà quản lý cấp cao Phần 2: Hệ thống lý luận: Định nghĩa về kiểm soát nội bộ, mô tả các yếu tố của kiểm soát nội bộ và chỉ ra những tiêu chí để kiểm soát hệ thống. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Phần 3: Báo cáo cho các thành viên bên ngoài: Hướng dẫn cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về kiểm soát nội bộ liên quan đến tài chính. Phần 4: Các công cụ đánh giá: Bao gồm các bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên cơ sở của báo cáo COSO năm 1992, Ủy ban Basel - Ủy ban về hoạt động giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) là một ủy ban gồm nhiều quan chức thanh tra ngân hàng do các Thống đốc ngân hàng Trung ương của 10 quốc gia thành lập vào năm 1975.
Ủy ban này gồm các đại diện cao cấp của các cơ quan thanh tra ngân hàng và Ngân hàng trung ương của Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Luxemboug, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ. Ủy ban thường tổ chức họp tại ngân hàng Thanh toán quốc tế ở Basel, là nơi đặt trụ sở của ban chấp hành - ban hành báo cáo Basel năm 1998 về kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Năm 2000 Ủy ban Basel ban hành báo cáo bổ sung liên quan đến kiểm toán nội bộ, quan hệ giữa kiểm toán viên và ngân hàng. Nội dung của báo cáo Basel nhằm xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Báo cáo Basel chỉ giới hạn trọng phạm vi ngân hàng và các tổ chức tín dụng chứ chưa mở rộng phạm vi ra các loại hình doanh nghiệp khác. Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp. Tháng 9 năm 2004 Báo cáo COSO về quản trị rủi ro doanh nghiệp đã chính thức được ban hành. Năm 2013, Ủy ban COSO ban hành báo cáo COSO hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận; từ đó, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Định nghĩa Khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển qua thời gian. Nhưng đến năm 1992 ủy ban COSO mới đưa ra định nghĩa đầy đủ về kiểm soát nội bộ và được chấp nhận khá rộng rãi là: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu: - Báo cáo tài chính đáng tin cậy - Các luật lệ và quy định được tuân thủ - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả” Định nghĩa trên đã đưa ra 4 nội dung cơ bản của kiểm soát nội bộ là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Kiểm soát nội bộ là một quá trình Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra.
Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà bao gồm tất cả những con người trong doanh nghiệp từ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc đến các nhân viên trong các bộ phận. Vì vậy, chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng ở mọi nơi, mọi công đoạn trong quá trình làm việc. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối rằng các mục tiêu sẽ được thực hiên Khi vận hành hệ thống kiểm soát, những rủi ro có thể xảy ra do sai lầm của con người làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện ra những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra.
Thêm vào đó, nguyên tắc cơ bản khi đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó.