Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng của NHTM Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế thị trường: - NHTM là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung ứng tiền vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. - NHTM là trung gian trong quá trình thanh toán góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá nhanh chóng. - NHTM góp phần điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn.
- NHTM góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và cung cấp các dịch vụ tài chính khác. Chức năng của Ngân hàng thương mại: NHTM là trung gian tài chính, cầu nối giữa người đi vay và người cho vay. Có thể tóm gọn các chức năng của NHTM, đó là: Trung gian tín dụng; Trung gian thanh toán;Tạo tiền cho nền kinh tế. Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là việc NHTM thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn.
Thông qua sự điều chuyển này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Trung gian tín dụng cũng là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.
Khái niệm tín dụng của NHTM Tín dụng là khái niệm đã tồn tại từ rất lâu đời trong xã hội loài người. Tín dụng theo tiếng La tinh là Creditim, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tin tưởng. Tên gọi này xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng, người cho vay sẽ cho người cần vốn vay theo các điều kiện đã được thỏa thuận trước như thời gian cho vay, thời gian và phương thức hoàn trả, lãi suất tín dụng… Trong quan hệ đó, người cho vay sẽ tin tưởng người cho vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thỏa thuận, hoàn trả gốc và lãi vay đúng hạn.
Do đó, có thể định nghĩa “Tín dụng ngân hàng là quan hệ bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức cá nhân trong xã hội, trong đó, ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Tín dụng NHTM là cầu nối phân phối lại vốn tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tái sản xuất của xã hội, góp phần giải quyết khó khăn giữa người đi vay và người cho vay cả về quy mô và thời gian vay vốn. Có ba quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng của NTHM, đó là quan hệ tín dụng giữa NHTM với doanh nghiệp, dân cư và các NHTM khác trong và ngoài nước. Trong đó, quan hệ tín dụng với Khách hàng doanh nghiệp (KHDN) là quan hệ cơ bản, đem lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM.
Hoạt động tín dụng đối của NHTM Tín dụng NHTM đối với KHDN bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính trong đó hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các NHTM. Sau đây là một số hoạt động tín dụng chủ yếu: a) Cho vay ứng trước Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng cung cấp cho người đi vay một khoản tiền vay nhất định để sử dụng trước. Người đi vay chỉ phải trả lãi vào lúc hoàn vốn gốc. Cho vay ứng trước có hai loại: - Cho vay ứng trước có bảo đảm: + Bảo đảm bằng các động sản như hàng hóa, tài sản hay chứng từ (cho vay cầm cố): là cho vay trên cơ sở cầm cố tại Ngân hàng các tài sản, có thể là hiện vật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 như vật tư hàng hóa, hoặc là giấy tờ như các giấy sở hữu hàng hóa, các chứng từ thanh toán, chứng từ có giá, thậm chí cả vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ,.
Số tiền cho vay bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản cầm cố, tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào quan hệ của Ngân hàng và khách hàng, vào uy tín của khách hàng. Ngân hàng sẽ quản lý tài sản cầm cố trong suốt thời hạn vay và chỉ hoàn lại khi thu đủ nợ (gốc và lãi). Trong trường hợp người đi vay không có khả năng trả nợ khi đến hạn, Ngân hàng có quyền bán tài sản cầm cố để thu nợ. + Bảo đảm bằng bất động sản như đất đai, nhà cửa: là cho vay trên cơ sở nắm giữ các giấy tờ chứng thực quyền sở hữu hợp pháp về bất động sản đem thế chấp.
+ Bảo đảm bằng bảo lãnh của bên thứ ba (cho vay có bảo lãnh): bên bảo lãnh lập hồ sơ bảo lãnh tại Ngân hàng và cam kết hoàn trả nợ nếu bên đi vay không có khả năng thanh toán. Ngân hàng cũng có thể đề nghị bên bảo lãnh phải có tài sản cầm cố, thế chấp tại Ngân hàng. - Cho vay ứng trước không có bảo đảm: là cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng đối với Ngân hàng mà không cần có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc sự bảo lãnh. Do vậy còn gọi là vay tín chấp.
b) Cho vay theo hạn mức Là hình thức cho vay trong đó Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trước số tiền tối đa (gọi là hạn mức tín dụng) mà khách hàng được vay từ Ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi đã thỏa thuận về hạn mức tín dụng, khách hàng có thể vay làm nhiều lần trong thời gian thỏa thuận mà không phải làm đơn xin vay với điều kiện tổng số tiền của các lần vay không vượt quá hạn mức tín dụng. c) Cho vay thấu chi Là hình thức cấp tín dụng ứng trước, đặc biệt trong đó Ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt quá số tiền dư trên tài khoản vãng lai trong một hạn mức và thời hạn nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với khách hàng. Khác với cho vay ứng trước, mức tín dụng thỏa thuận trong vay thấu chi chưa phải là khoản tiền Ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (thấu chi) thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mới được coi là tín dụng được cấp phát và bắt đầu tính tiền lãi.
Hình thức cho vay này thường chỉ áp dụng cho khách hàng có khả năng tài chính mạnh và uy tín. d) Cho vay chiết khấu Là cho vay dưới hình thức NHTM mua lại các thương phiếu chưa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Khi đến hạn, Ngân hàng sẽ đòi toàn bộ tiền ghi trên thương phiếu ở người trả tiền thương phiếu. e) Tín dụng ủy thác hay bao thanh toán Là nghiệp vụ trong đó công ty “factor” - công ty con của Ngân hàng cam kết mua lại các khoản thanh toán chưa tới hạn phát sinh từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hóa và dịch vụ với giá chiết khấu.
Các khoản nợ này thường là ngắn hạn (từ 30 đến 120 ngày). f) Tín dụng thuê mua Còn gọi là tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác. Ngân hàng sẽ dùng vốn của mình để mua tài sản theo yêu cầu của người thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn.
Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó tùy theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng. g) Tín dụng bằng chữ ký (bảo lãnh) Là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng không trực tiếp cho khách hàng vay tiền nhưng bằng uy tín (chữ ký) của mình, Ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay của người khác và đảm bảo thanh toán hộ khách hàng. Có 2 hình thức: - Nghiệp vụ chấp nhận: có 2 loại + Chấp nhận trả tiền là nghiệp vụ mà NHTM cho phép người bán có quyền ký phát hối phiếu đòi tiền Ngân hàng chấp nhận. Thông thường, muốn được hưởng loại chấp nhận này, người mua phải ký quỹ cho Ngân hàng.
Nghiệp vụ này được áp dụng phổ biến trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Bảo đảm trả tiền là nghiệp vụ mà NHTM chỉ đảm bảo khả năng thanh toán của người vay nợ, còn người có nghĩa vụ trả tiền ghi trong hối phiếu phải trực tiếp trả tiền cho người được hưởng lợi hối phiếu. Chỉ trừ khi người vay không còn khả năng thanh toán thực sự thì Ngân hàng chấp nhận mới đứng ra thanh toán cho người được hưởng lợi. - Nghiệp vụ bảo lãnh: là nghiệp vụ trong đó Ngân hàng đứng ra cam kết bằng văn bản rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người được hưởng bảo lãnh nếu người này không thực hiện được nghĩa vụ đó.
Có nhiều hình thức bảo lãnh như bảo lãnh để tham gia dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh trả tiền ứng trước, bảo lãnh chất lượng sản phẩm theo hợp đồng, bảo lãnh trả vốn vay. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường - Tín dụng ngân hàng đối với KHDN nhằm huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong tất cả các thành phần kinh tế để cho doanh nghiệp bổ sung vốn kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất. Vốn là yếu tố hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi tổ chức kinh tế.