Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM 1.1 Cạnh tranh và tác động của cạnh tranh “Cạnh tranh” là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ. Hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất về cạnh tranh. Có rất nhiều nhà kinh tế học đã thực hiện nghiên cứu vấn đề cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp. Cạnh tranh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực với nhiều cách tiếp cận khác nhau: - Theo K.Marx (1978): “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch.” - Theo Trần Sửu (2006): “Cạnh tranh, nói chung, là sự phấn đấu vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất.” - Từ điển bách khoa Việt Nam (1995): “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất tiêu thụ có lợi nhất” - Ở Việt Nam, khi đề cập đến cạnh tranh, người ta thường nghĩ đến vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa dịch vụ.
Tuy có những định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, nhưng các định nghĩa đều có những đặc điểm chung: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một hoặc một nhóm người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham gia. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của người khác. Thứ hai, mục đích cuối cùng của cạnh tranh là thu được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể và có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường: phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, gia tăng kênh phân phối sản phẩm, cạnh tranh về giá bán sản phẩm dịch vụ… Thứ tư, cạnh tranh là động lực để các doanh nghiệp phát triển.
Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học. Cạnh tranh giúp các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có được. Cạnh tranh giúp đất nước trở nên phồn thịnh. Thông qua quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia có thể xác định được những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mình, từ đó có những bước tiến thích hợp nhất khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
Thứ năm, các chủ thể tham gia phải tuân thủ những ràng buộc chung bởi những quy định. Đó có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, các thông lệ tập quán kinh doanh, đặc điểm nhu cầu, thị hiếu của khách hàng… Những ràng buộc này thường do Nhà nước quy định nhằm hướng tới sự cạnh tranh mang tính lành mạnh. Thứ sáu, cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và không gian không cố định. Cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề.
Cạnh tranh không chỉ là duy trì phát triển thị phần hiện hữu mà còn phải phát triển thị trường mới, tìm hướng đi mới cho doanh nghiệp. Những tác động của cạnh tranh đối với nền kinh tế * Tác động tích cực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản cũng là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường. Nó là động lực phát triển của nền kinh tế. - Đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh, cạnh tranh buộc các chủ thể phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tổ chức quản lý có hiệu quả… - Đối với người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra một áp lực buộc các doanh nghiệp phải hạ giá bán.
Để làm được điều này, doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến về mẫu mã, giá cả sản phẩm… Vì thế người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình. Mức thỏa mãn của người tiêu dùng ngày càng được gia tăng. - Đối với nền kinh tế, cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng và tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực, qua đó góp phần tiết kiệm nguồn lực chung của xã hội. - Đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường, tìm kiếm và phát triển thị trường mới.
Đây là cơ hội để hợp tác giao lưu về kinh tế, văn hóa, xã hội. Các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi những kinh nghiệm quý báu từ các doanh nghiệp nước ngoài. Từ đó, doanh nghiệp có thể vận dụng vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình một cách hiệu quả. * Tác động tiêu cực - Cạnh tranh có thể dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, gia tăng các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh như làm hàng giả, buôn lậu, ăn cắp bản quyền, lừa đảo, tung tin thất thiệt, phá hoại uy tín của đối thủ.
- Cạnh tranh chạy theo lợi nhuận và lợi ích riêng sẽ làm cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, bất ổn nền kinh tế… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Yêu cầu đặt ra là không phải thủ tiêu cạnh tranh mà phải để cạnh tranh diễn ra trong môi trường bình đẳng, lành mạnh, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh tranh. Điều này cần phải có sự chung tay giữa Nhà nước và các doanh nghiệp.2 Cơ sở lý luận về lợi thế cạnh tranh Từ những năm 80, nhiều nhà kinh tế học phương Tây đã đưa ra nhiều lý thuyết về cạnh tranh như Michael Porter, J. Barney… Năm 1985, lý thuyết “lợi thế cạnh tranh” của M.Porter ra đời đã phân tích tình hình doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trong thương mại quốc tế và đưa ra khái niệm về lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh đề cập tới điều kiện tài nguyên, môi trường tạo cho doanh nghiệp, cho quốc gia những thuận lợi gì trong sản xuất và thương mại như giàu có về nguồn nhân lực, dầu mỏ, nước, rừng, tài nguyên thiên nhiên… Lợi thế này chỉ tạm thời vì đều chịu tác động của quy luật khan hiếm.
Lợi thế cạnh tranh muốn nói tới sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia nhiều hơn như chất lượng quản lý, chất lượng sản phẩm, chất lượng đào tạo, chất lượng sáng tạo. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện một hoặc nhiều ưu thế của nó so với các đối thủ cạnh tranh nhằm đạt được thắng lợi trong cạnh tranh. Ưu thế này có thể dẫn đến chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản phẩm dịch vụ so với sản phẩm dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và được thể hiện thành tỷ suất sinh lợi cao hơn so với mức trung bình. Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh có mối quan hệ chặt chẽ.
Thường thì lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh. Một doanh nghiệp, một ngành có lợi thế so sánh thì thường có lợi thế cạnh tranh. Nó góp phần thúc đẩy doanh nghiệp, ngành tăng năng lực cạnh tranh. Lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh hỗ trợ cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lợi thế so sánh được phát huy tác dụng nhờ lợi thế cạnh tranh. Nếu một doanh nghiệp, một ngành có lợi thế so sánh do nguồn lực dồi dào nhưng nguồn này không có lợi thế cạnh tranh, ví dụ chất lượng lao động thấp, thì lợi thế dồi dào về nguồn lực kia không thể phát huy tác dụng của nó.3 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong hệ thống ngân hàng trung gian nói riêng. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM. Đạo luật Ngân hàng của Cộng Hòa Pháp 1941 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, có thể nói rằng NHTM là một định chế tài chính trung gian cực kỳ quan trọng cho nền kinh tế. Nhờ hệ thống tài chính trung gian này, các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra.
Theo Michael Porter (1990), “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình.