CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NHTM 1.1 Những vấn đề chung về thẻ ngân hàng 1.1 Lịch sử phát triển thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán không dùng tiền mặt rất tiện lợi trong nền kinh tế. Lịch sử ra đời của thẻ (với hình dạng như bây giờ) được ghi nhận xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Thẻ ra đời năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu Califonia cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, để thực hiện kích cầu, khuyến khích tiêu dùng, góp phần khắc phục ảnh hưởng của cuộc đại khủng hoảng này, các nước phát triển cũng đã đưa ra mô hình tài trợ tiêu dùng bán chịu.
Năm 1949, một thương gia người Mỹ là Frank Mc Namara nhận thấy sự bất tiện trong việc sử dụng tiền mặt, ông đã cùng Ralph Schneider đứng ra thành lập Dinner’Club. Lệ phí ban đầu là 5 USD cho việc phát hành mỗi thẻ. Những người chủ thẻ có thể dùng thẻ của mình khi đi ăn, nghỉ, mua sắm tại một số nhà hàng, khách sạn ở NewYork và thanh toán khoản tiền đã dùng vào cuối tháng. Hình thức này nhanh chóng được biết đến và sử dụng do tính năng vượt trội của việc dùng Dinner’Club so với dùng tiền mặt.
Trong lĩnh vực của các ngân hàng, dạng thẻ thanh toán Charge–It của ngân hàng John Biggins (Mỹ) ra đời năm 1945, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Sau đó, các đại lý nộp lại những phiếu này cho ngân hàng Biggins, ngân hàng thu tiền từ khách hàng và thanh toán cho đại lý. Đây chính là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin National vào năm 1951. Năm 1955, hàng loạt thẻ mới xuất hiện ở Mỹ như TripCharge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club.
Đến năm 1958, thẻ Card Blanche, American Express ra đời và thống lĩnh đa số thị trường. Phần lớn các thẻ này chỉ dành cho giới doanh nhân và những người giàu có lúc bấy giờ, nhưng các ngân hàng đã dự báo rằng giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Năm 1960, một ngân hàng lớn của Mỹ là Bank of America đã phát hành thẻ Bank Americard. Để mở rộng quy mô hoạt động, ngân hàng này cấp giấy phép cho các định chế tài chính trong khu vực được phát hành thẻ Bank Americard.
Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của ngân hàng Bank of America, mười bốn ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên hàng quốc tế (Interbank Card Association –ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge. Vào năm 1977, thẻ tín dụng Bank Americard được đổi tên thành thẻ Visa. Tổ chức thẻ Visa quốc tế hình thành và phát triển nhưng không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên phát hành khiến cho tổ chức thẻ Visa nhanh chóng mở rộng thị trường. Đến nay, thẻ Visa có quy mô lớn nhất và số lượng người sử dụng nhiều nhất trên thế giới.
Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ 2 trên thế giới sau Visa, góp phần đưa thị trường thẻ thanh toán ngày càng phát triển trên toàn cầu. Sau Mỹ, ở các nước châu Âu và tiếp sau là châu Á, đặc biệt là Nhật Bản, thẻ thanh toán được sử dụng rộng rãi với chất lượng ngày càng cao nhờ vào sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số. Ngày nay, ngoài hai loại thẻ Visa và Master đã và đang được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trên thế giới, thị trường thẻ còn có một số loại thẻ điển hình trong đó phổ biến là thẻ du lịch và giải trí là thẻ do các tập đoàn kinh doanh lớn, công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành, bao gồm: Thẻ Diners Club: thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành vào năm 1949 ở Mỹ. Thẻ American Express (thẻ Amex): ra đời năm 1958.
Đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới, trực tiếp phát hành và quản lý chủ thẻ. Thẻ JCB: thẻ du lịch và giải trí xuất hiện ở Nhật từ năm 1961 do ngân hàng Sanwa phát hành, và phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế vào năm 1981. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm và phân loại thẻ ngân hàng Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, thẻ được hiểu theo những nghĩa khác nhau do tính năng và cách dùng thẻ từng nơi, từng thời điểm không giống nhau. Nhưng theo các nhà kinh tế thì có thể khái quát thẻ thông qua khái niệm: Thẻ là công cụ thanh toán do các tổ chức tài chính, tín dụng phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Hoặc có thể hiểu theo một cách khác: thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính, hoặc các công ty và người sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt tại các đại lý hoặc tại các máy rút tiền tự động. Theo quan điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, khái niệm về thẻ được quy định tại quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007: “Thẻ ngân hàng là “phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Phân loại thẻ ngân hàng: Các loại hình về thẻ rất phong phú và đa dạng. Xét trên nhiều góc độ khác nhau, có nhiều cách để phân loại thẻ.
Xét theo công nghệ sản xuất, có 3 loại: Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ, loại này nhanh chóng bị thay thế bởi tính bảo mật kém, dễ làm giả. Thẻ băng từ (magnetic stripe): là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 trường. Nhược điểm của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hoá không nhiều và mang tính cố định nên thông tin rất dễ bị đánh cắp.
Thẻ thông minh (Smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính. Thông thường, thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ hoặc có cả Chip điện tử và băng từ. Xét theo bản chất kinh tế của nguồn thanh toán: Thẻ tín dụng (Credit card): là loại thẻ cho nguời sử dụng khả năng chi tiêu trước trả tiền sau, cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu khi đến hạn quy định và phải trả lãi cho số tiền còn nợ.
Thẻ tín dụng được xem như là một công cụ cho vay tiêu dùng của tổ chức phát hành thẻ. Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gởi thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Đối với thẻ ghi nợ không diễn ra quá trình cho vay tín dụng, không có việc thẩm định khách hàng nên khách hàng chỉ cần có tài khoản tại ngân hàng đều có thể tiếp cận với sản phẩm thẻ ghi nợ. Do đó, về mức độ có thể thay thể tiền mặt, thẻ ghi nợ chiếm ưu thế vượt trội so với thẻ tín dụng.
Thẻ trả trước (Prepaid card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ, tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ không cần phải có tài khoản tại ngân hàng. Xét theo phạm vi lãnh thổ: Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ, thông thường là thẻ ghi nợ của các ngân hàng thương mại được phát hành và sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lưới các đơn vị chấp nhận thẻ trong nước. Thẻ quốc tế: là loại thẻ được sử dụng ở phạm vi trong nước và quốc tế.
Để phát hành thẻ quốc tế, tổ chức phát hành thẻ phải là thành viên của tổ chức thẻ quốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do tổ chức thẻ quốc tế ban hành.3 Vai trò của thẻ ngân hàng 1.1 Đối với người sử dụng thẻ Sự tiện ích: Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại bất cứ ĐVCNT trên toàn thế giới mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền cần thanh toán. Sự tiện lợi này thể hiện rất rõ khi chủ thẻ đi công tác hay đi du lịch ra nước ngoài mà ít có công cụ thanh toán nào thay thế được. Tính an toàn: Việc sử dụng thẻ sẽ an toàn hơn nhiều so với các hình thức thanh toán khác như tiền mặt, séc,… Khi thẻ bị mất, người cầm thẻ cũng khó sử dụng được vì ngân hàng sẽ bảo mật cho chủ thẻ bằng mã số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ. Trong trường hợp mất thẻ, chủ thẻ chỉ cần thông báo đến ngân hàng phát hành để khóa thẻ và cấp lại thẻ khác.
Tiết kiệm thời gian: thẻ giúp chủ thẻ tiết kiệm được thời gian chờ đợi khi giao dịch thanh toán, sẽ tránh được khâu kiểm hoặc khi muốn thanh toán phí dịch vụ Internet, cước điện thoại, điện, nước,… chủ thẻ không phải mất thời gian đi đến các quầy giao dịch và chờ đợi thứ tự giao dịch.