phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của NHTM. Chƣơng 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời tại các NHTMCP Việt Nam. Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng TSSL của các NHTM Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA NHTM 1.1 Khái niệm Tỷ suất sinh lời (TSSL) đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như tổng tài sản, vốn cổ phần.
Tỷ suất sinh lời của NHTM đo lường thu nhập của NHTM với các nhân tố khác tạo ra thu nhập như tổng tài sản, vốn cổ phần của NHTM. Tỷ suất sinh lời của NHTM được thể hiện qua các chỉ số như tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA). Bên cạnh đó, ngoài hệ số ROA và ROE, nhiều nhà nghiên cứu còn sử dụng thêm mốt số hệ số đặc thù để đo lường khả năng sinh lời như tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, chênh lệch lãi suất bình quân, tỷ lệ hiệu suất sử dụng tài sản cố định. TS Trương Quang Thông, Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại, 2012,NXB Thống Kê Tp.
Hồ Chí Minh) 1.2 Các chỉ số đánh giá TSSL của NHTM 1.1 Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equity) Tỷ số ROE được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một NHTM vì những lý do sau: - Nếu ROE tương đối thấp so với những ngân hàng khác sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng duy trì vị thế cạnh tranh của NH trên thị trường. - ROE thấp có thể hạn chế tăng trưởng của NH vì khi ấy ngân hàng không có cơ hội tích lũy để tăng vốn chủ sở hữu trong khi hầu hết các quy định pháp lý đều ràng buộc việc tăng tài sản của NH gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) được tính bằng lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân (Bao gồm vốn cổ phần, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ dự trữ và lợi nhuận không chia). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Lợi nhuận ròng ROE (%) = * 100 VCSH sản bình quân ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.
Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các cổ đông. TS Trương Quang Thông, Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại, 2012,NXB Thống Kê Tp. Hồ Chí Minh) 1.2 Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA - Return On Assets) Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) được tính bằng lợi nhuận ròng chia cho tổng tài sản bình quân.
Lợi nhuận ròng ROA (%) = * 100 Tổng tài sản bình quân ROA là tỷ số đo lường chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng, thể hiện khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. TS Trương Quang Thông, Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại, 2012,NXB Thống Kê Tp. Hồ Chí Minh) 1.3 Mối quan hệ giữa ROA và ROE Lợi nhuận ròng sau thuế ROE = * 100 VCSH sản bình quân Lợi nhuận ròng sau thuế Tổng tài sản bình quân ROE = * * 100 Tổng tài sản bình quân VCSH sản bình quân Tổng tài sản bình quân ROE = ROA* VCSH sản bình quân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Mối quan hệ trên cho thấy thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản. Một ngân hàng có ROA thấp vẫn có thể đạt ROE ở mức cao nếu như sử dụng nhiều nợ (bao gồm cả tiền gởi của khách hàng) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài sản.
TS Trương Quang Thông, Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại, 2012,NXB Thống Kê Tp. Hồ Chí Minh) 1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TSSL CỦA NHTM TSSL là mục tiêu cuối cùng của các NHTM, bởi vậy việc gia tăng TSSL cho NHTM là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, để gia tăng TSSL của NHTM, đòi hỏi phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của NHTM nhằm hạn chế những rủi ro làm giảm TSSL của NHTM, tạo cộng hưởng đối với những yếu tố tác động có lợi đến TSSL của NHTM. Trong luận văn, tác giả nghiên cứu 2 nhóm yếu tố chính: Nhóm yếu tố đặc trưng của NHTM và nhóm các yếu tố vĩ mô.
Trong nghiên cứu này tác giả không đề cập đến yếu tố như: môi trường kinh tế, chính trị xã hội trong và ngoài nước, môi trường pháp lý, năng lực quản trị điều hành của lãnh đạo NHTM, khả năng ứng dụng công nghệ và chất lượng nguồn nhân sự.1 Những yếu tố đặc trƣng của NHTM Yếu tố đặc trưng của ngân hàng là yếu tố mà ngân hàng có thể kiểm soát được, có thể điều chỉnh theo định hướng, chính sách, chiến lược của mỗi ngân hàng. Ngân hàng có thể thay đổi TSSL thông qua những chiến lược, những chính sách thay đổi các đặc trưng của NHTM.1 Quy mô tổng tài sản của NHTM Nội dung hoạt động chủ yếu của một NHTM thể hiện ở phía tài sản. Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có).
Khi nói đến tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến qui mô của hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư. Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của một NHTM. Đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hoá trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm bảo tiền vay… Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng quy mô tổng tài sản của ngân hàng. Các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán gồm các khoản mục: chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài hạn.
Hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: qui mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán… Trong điều kiện hội nhập quốc tế, các yếu tố về biến động chính trị, sự thay đổi của chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền quốc gia… sẽ ảnh hưởng đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngoài, mối tương quan giữa tài sản nước ngoài và tài sản ngoại tệ trong tổng tài sản của ngân hàng.2 Mức độ an toàn vốn của NHTM Kinh doanh ngân hàng gắn liền với nhiều rủi ro như phá sản, mất niềm tin của khách hàng hay rủi ro về suy thoái vốn. để hạn chế những rủi ro trên thì ngân hàng cần bổ sung vốn chủ sở hữu trong quá trình kinh doanh. Vốn chủ sở hữu là chỉ số quan trọng phản ánh mức độ an toàn vốn của chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu của NHTM là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên… Vốn chủ sở hữu bao gồm hai bộ phận: Vốn của chủ sở hữu ban đầu và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động.
Vốn chủ sở hữu ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTMNN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTMCP) bao gồm cổ phần thường và các cổ phần ưu đãi. Mức vốn này phải đảm bảo bằng mức vốn pháp định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ sở hữu bổ sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn… Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động thì nghĩa vụ thanh toán nợ sẽ được thanh toán theo thứ tự: các khoản tiền gửi của khách hàng, nghĩa vụ với Chính phủ và người lao động, các khoản vay và cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu. Nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền và người cho vay càng cảm thấy an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau). Do đó, vốn của chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng. Đồng thời, vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ.