Chương 1:Giới thiệu luận văn - Chương2:Tổng quan lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản. - Chương 3:Thực trạng về rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. - Chương 4:Phương pháp và kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. - Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu - Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề thanh khoản và rủi ro thanh khoản của các NHTM. Dựa trên cơ sở lý thuyếtvà các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố nội tại và các yếu tố vĩ mô đến rủi ro thanh khoản của các NHTM. - Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp các NHTM có cái nhìn khách quan về tình hình rủi ro thanh khoản tại ngân hàng của mình, từ đó có thể lựa chọn các giải pháp thích hợp để tác động đến các yếu tố ảnh hưởng nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản, đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong quá trình hoạt động của các ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 ƢƠ : ỔNG QUAN LÝ THUY T VỀ Y Ả ƢỞ ỦI RO THANH KHOẢN 2.
Tổng quan về rủi ro thanh khoản của các NHTM 2. Khái niệm thanh khoản của NHTM Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về thanh khoản của NHTM thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, cụ thể là: BIS (2009) định nghĩa thanh khoản là một khái niệm chuyên ngành về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi cho vay thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng Theo Duttweiler (2009) thanh khoản là sự d dàng chuyển một tài sản cụ thể thành tiền m t và khi công ty muốn chuyển tài sản thành tiền m t thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch Thanh khoản của ngân hàng có thể được phân thành hai loại bao gồm thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo Thanh khoản tự nhiên được tạo ra từ tài sản của ngân hàng có thời gian đáo hạn theo quy định Thanh khoản nhân tạo được tạo ra thông qua khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền m t trước ngày đáo hạn Theo định nghĩa của Basel (2008) cho rằng: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó đáp ứng nhu cầu tài trợ vốn để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức” (Basel 2008) Theo Duttweiler (2009), thanh khoản có thể được phân thành hai loại bao gồm thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo ối với thanh khoản tự nhiên của các NHTM, một giao dịch gửi tiền ho c vay vốn của khách hàng thường được tái tục với số tiền có thể bằng ho c nhỏ hơn hay lớn hơn số tiền ban đầu ối với thanh khoản nhân tạo, các ngân hàng có thể dùng các tài sản có tính lỏng cao như giấy tờ có giá có cam kết bán lại hay thương phiếu để chuyển đổi thành tiền m t trước ngày đáo hạn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Theo Trương Quang Thông (2010) dựa trên cách tiếp cận cả về tài sản và nguồn vốn, thanh khoản được định nghĩa là “khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng” Tóm lại, khả năng thanh khoản của NHTM là khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng như rút tiền gửi ho c giải ngân các khoản tín dụng (bao gồm: các khoản cho vay, bao thanh toán, bảo lãnh…) đã cam kết. Khái niệm rủi ro thanh khoản của NHTM ối với khái niệm rủi ro thanh khoản Duttweiler (2009) cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó ho c phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán ho c do các nguyên nhân khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM từ đó có thể kéo theo những tác động không tốt cho NHTM Theo Basel (2008) định nghĩa như sau: “Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng sự suy giảm trong khoản phải trả hay tài trợ cho việc gia tăng trong tài sản.
Khi một ngân hàng thiếu thanh khoản, nó không thể có đủ tiền bằng cách huy động vốn ho c chuyển đổi các tài sản kịp thời, ở chi phí hợp lý do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận” Rủi ro thanh khoản được phân làm hai nhóm đó là: Rủi ro thanh khoản thị trường và rủi ro thanh khoản tài trợ. Rủi ro thanh khoản thị trường (market liquidity risk) là rủi ro khi các ngân hàng không thể bán được tài sản của họ trên thị trường với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất Trong khi đó rủi ro thanh khoản tài trợ (funding liquidity risk) được hiểu là rủi ro khi các ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng các yêu cầu về vốn khả dụng của mình. Hai loại rủi ro thanh khoản này thường có tác động qua lại với nhau thông qua thị trường tài chính, từ đó có thể gây ảnh hưởng tới rất nhiều các tổ chức tài chính trong đó có NHTM. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản của NHTM Rủi ro thanh khoản của các NHTM có thể được đo lường bằng hai phương pháp: Khe hở tài trợ và các hệ số thể hiện khả năng thanh khoản. Theo Vodová (2013), khe hở tài trợ là chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn đối với cả thời điểm hiện tại và tương lai. Các hệ số thể hiện khả năng thanh khoản của NHTM là các hệ số được tính toán từ các số liệu trong báo cáo tài chính của các ngân hàng thường được sử dụng để đánh giá khả năng cũng như dự đoán xu hướng di n biến của thanh khoản trong tương lai Thông qua việc lược khảo nghiên cứu trước của một số tác giả như Aspachs và cộng sự (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008), tác giả tổng hợp một số cách đo lường khả năng thanh khoản của các NHTM dựa vào bốn tỷ số thanh khoản cụ thể như sau: Chỉ tiêu này phản ánh một cách tổng quát nhất khả năng thanh khoản của ngân hàng. L1 phản ánh tỷ lệ giữa tài sản thanh khoản và tổng tài sản của ngân hàng trong thời điểm hiện tại.
Tỷ số càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao và ngược lại ngân hàng có thể đối m t với các rủi ro trong vấn đề thanh khoản. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc dùng các tài sản có tính thanh khoản cao để tài trợ cho các khoản tiền gửi và vốn huy động ngắn hạn. Tỷ số này cũng thường được sử dụng để đánh giá mức độ an toàn trong thanh khoản của các NHTM. Tỷ số L2 cũng có mối tương quan cùng chiều với mức độ an toàn trong thanh khoản và ngược chiều với rủi ro thanh khoản như L1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tỷ số này thể hiện tỷ trọng các khoản cho vay trong tổng tài sản của ngân hàng.
Tỷ số này càng cao sẽ làm cho số lượng tiền m t và tài sản thanh khoản của ngân hàng càng thấp do ngân hàng phải dùng tiền m t và tài sản thanh khoản để tài trợ cho việc thực hiện giải ngân cho các khoản vay đó Chính vì vậy tỷ số này càng cao sẽ làm cho ngân hàng phải đối m t với rủi ro lớn về m t thanh khoản. Tỷ số L4 cũng có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản như tỷ số L3. Tiền gửi và nguồn vốn ngắn hạn chủ yếu được dùng để tài trợ cho các khoản cho vay của ngân hàng. Khi tỷ số này càng cao và thậm chí gần bằng 1 thì khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ rất thấp, thậm chí ngân hàng có thể mất khả năng thanh khoản.
Tùy thuộc vào mục đích của từng nghiên cứu mà chọn lựa các tỷ số thích hợp để sử dụng làm biến phụ thuộc nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến rủi ro thanh khoản của các NHTM. Nguyên nhân xảy ra rủi ro thanh khoản tại các NHTM Nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại: - Thiếu ngânquỹđểđáp ứng các nhu cầu chi trảcủa ngân hàng: nguyên nhân này xuất phát từ cả hai phía nguồn vốn và tài sản của ngân hàng.Về phía nguồn vốn của ngân hàng thể hiện ở việc không đủ tiền m t để đáp ứng các nhu cầu chi trảcho những người gửi tiền ho c thanh toán cho các khoản nợngắn hạn mà ngân hàng đã vay dẫn đến xảy rarủi ro thanh khoản (Trương Quang Thông 2012) Về phía tài sản của ngân hàng thể hiện ở việc thiếu ngân quỹ để đáp ứng nhu cầu giải ngân cho các khoản tín dụng đã cam kết. Khi khách hàng muốn rút vốn theo nhu cầu và theo lịch đã thỏa thuận trước đó làm phát sinh nhu cầu thanh khoản Khi đó ngân hàng phải sử dụng tiền m t dự trữ, vay nợ bổ sung ho c bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của khách hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Sử dụng vốn ngắn hạn đầu tƣ dài hạn: Ngân hàng sử dụng các khoản tiền gửi ngắn hạn huy động được từ nhiều nguồn khác nhau để tài trợ cho việc đầu tư ho c cho vay trong dài hạn.
Chính vì vậy đã xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa thời gian đáo hạn của các khoản đầu tư và cho vay và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, mà thường g p nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để thanh toán các khoản lãi của tiền gửi khi đến hạn cũng như nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng (Trần Huy Hoàng, 2011). - Sự thay đổi của lãi suất thị trƣờng: Các khách hàng gửi tiền và vay vốn ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất thị trường.