chương 1, tác giả đã giới thiệu khái quát chung về đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ L THUY T VỀ CÁC Y U TỐ ẢNH HƢỞNG Đ N RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Cơ sở thu ết về rủi ro trong hoạt độn inh o nh n n h n thƣơn mại 2.1 hái niệm về rủi ro tron n nh n Theo Amalendu Ghosh (2012), “Rủi ro trong ngân hàng là tổn thất tiềm năng mà ngân hàng gặp phải do một hoặc một số sự kiện xảy ra. Rủi ro phát sinh do sự xảy ra không chắc chắn của các sự kiện liên quan mà sự kiện này có nguy cơ gây ra thiệt hại cho ngân hàng”. Khi xét đến rủi ro trong ngân hàng, ta quan tâm đến khả năng mất mát hoặc giảm sút giá trị tài sản từ các sự kiện liên quan như nền kinh tế kém tăng trưởng, chính sách tài chính thay đổi, giao dịch diễn ra không thuận lợi, lãi suất hoặc tỷ giá biến động tiêu cực, giá cổ phiếu giảm,… Rủi ro chủ yếu xảy ra trong các giao dịch tài chính và trong các hoạt động khác. Rủi ro được đo bằng sự thay đổi của giá trị tài sản, giá của chứng khoán hoặc hàng hóa có liên quan đến giá trị hoặc giá hiện tại.2 Ph n oại rủi ro tron hoạt độn inh o nh ngân hàng thƣơn mại Có nhiều tiêu chí và mục đích khác nhau để phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh NHTM.
Thứ nhất, nếu theo tiêu chí rủi ro xuất hiện trực tiếp trong hoạt động kinh doanh hay xuất hiện trong hoạt động kiểm soát kinh doanh của ngân hàng, thì ngân hàng phải đối mặt với hai loại rủi ro: rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm soát (Amalendu Ghosh ,2012). Rủi ro kinh doanh là rủi ro xuất hiện tiềm ẩn trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và phát sinh do sự xuất hiện của một số sự kiện bất ngờ trong nền kinh tế hay trên thị trường tài chính. Rủi ro xảy ra làm sụt giảm giá trị tài sản, từ đó làm giảm giá trị nội tại của ngân hàng. Ví dụ: số tiền cho khách hàng vay có thể không được hoàn trả do khách hàng gặp rủi ro, hoặc giá trị thị trường của trái phiếu hay cổ phiếu có thể giảm do lãi suất tăng cao, hoặc giao dịch hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ nhưng tỷ giá đã biến động không thuận lợi vào ngày đáo hạn.
Các loại rủi ro kinh doanh trong ngân hàng là: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, và rủi ro hoạt động. Đây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 là ba loại rủi ro kinh doanh lớn nhất, và đòi hỏi ngân hàng phải có biện pháp đối phó phức tạp. Rủi ro kiểm soát liên quan đến sự thiếu sót hay thất bại trong việc kiểm soát cường độ công việc, khối lượng rủi ro kinh doanh hoặc ngăn chặn sự gia tăng của rủi ro hoạt động. Bất cập trong kiểm soát phát sinh do sự thiếu hiểu biết trong quá trình kinh doanh.
Rủi ro kiểm soát cũng phát sinh từ sự lơ đãng hay kiểm soát lỏng lẻo của các nhân viên kiểm soát. Ví dụ: ngân hàng đã ước tính tổn thất cho vay của trong danh mục đầu tư tín dụng trung bình là 5% theo mô hình nội bộ. Trong thực tế, tổn thất có thể sẽ cao hơn 5% nếu việc kiểm soát thực hiện không đầy đủ, các tiêu chuẩn xử phạt khi cho vay không được thực hiện, tài sản thế chấp không phù hợp với quy định, hoặc kiểm soát lỏng lẻo tài khoản vay của khách hàng; từ đó mức độ rủi ro tín dụng sẽ cao hơn so với mức độ được ước tính ban đầu. Rủi ro kinh doanh sẽ cao hơn nếu hệ thống kiểm soát không phát hiện những sai phạm đó qua thời gian.
Thứ hai, nếu xét theo tiêu chí trực tiếp hay gián tiếp tác động đến tình hình tài chính của ngân hàng thì các rủi ro cũng có thể được phân thành hai loại khác, đó là: rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính (Amalendu Ghosh ,2012). Rủi ro tài chính gây ra tổn thất cho ngân hàng một cách trực tiếp. Tác động của rủi ro tài chính có thể được đo bằng con số cụ thể. Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, và rủi ro hoạt động là rủi ro tài chính vì nó tác động trực tiếp đến tình hình tài chính của ngân hàng.
Ví dụ, nếu giá trị thị trường của trái phiếu được mua lại bởi ngân hàng giảm xuống dưới giá mua lại, thì các ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất nếu nó bán lại trái phiếu này trên thị trường. Rủi ro phi tài chính ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng một cách gián tiếp, những tác động của rủi ro phi tài chính thường không thể định lượng được. Tuy nhiên, tác động của rủi ro phi tài chính có thể được đánh giá thông qua phân tích tình huống xảy ra và đánh giá mức độ nghiêm trọng từ thấp, trung bình và cao. Rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý, rủi ro rửa tiền, rủi ro công nghệ và rủi ro kiểm soát là những rủi ro phi tài chính bởi vì chúng ảnh hưởng đến ngân hàng một cách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 gián tiếp.
Cơ hội kinh doanh bị mất và hậu quả là thu nhập bị mất, hoặc tiền bồi thường cho khách hàng để đáp ứng với quyết định bất lợi từ tòa án của pháp luật đối với ngân hàng là những ví dụ về rủi ro phi tài chính của ngân hàng.3 Cá hỉ số để đo ƣờn rủi ro Như đã đề cập ở trên, có rất nhiều rủi ro trong ngân hàng và từng loại rủi ro sẽ được đo lường bằng các chỉ số và phương pháp khác nhau. Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, tác giả dựa theo bài nghiên cứu Samir Srairi (2013), nên chỉ xem xét và đo lường rủi ro của ngân hàng thông qua hai chỉ số là chỉ số Z-score và tỷ lệ nợ xấu (Non-performing loan - NPL). Chỉ số Z-score đại diện cho rủi ro chung của ngân hàng, chỉ số này đã được sử dụng trong nhiều nghiên trước đây. Tỷ lệ nợ xấu là một biến số quan trọng đại diện cho rủi ro tín dụng – đây là loại rủi ro dễ nhận thấy, có thể dễ dàng đo lường được và tác động của rủi ro tín dụng đến rủi ro nói chung của ngân hàng là rất lớn.1 Chỉ số Z-score Chỉ số Z-score được sử dụng để đo lường rủi ro chung của ngân hàng, bắt nguồn từ bài báo của Roy (1952).
Việc tính toán chỉ số này được sử dụng từ dữ liệu có sẵn trong các báo cáo tài chính ngân hàng. Với cách tính như sau: Z-scoreit = [Ei(ROAAit) + Ebpit/Abqit]/ σi(ROAAit). Trong đó: ▪ ROAAit: Suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân ngân hàng ▪ Ei(ROAAit): Trung bình ROAA ngân hàng ▪ Ebqit/Abqit: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu bình quân trên tổng tài sản bình quân của ngân hàng ▪ σi(ROAAit): Độ lệch chuẩn ROAA của ngân hàng ▪ it là tính toán cho ngân hàng i ở thời gian t. Z-score được phân tách thành hai phần và đại diện cho hai loại rủi ro (Lepetit, NYS, Rous, & Tarazi, 2008).
Phần đầu tiên đo lường rủi ro rủi ro danh mục đầu tư của ngân hàng và phần thứ hai đo lường rủi ro sử dụng đòn bẩy vốn. Z-score thể hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 việc giảm thu nhập sẽ làm thâm hụt vốn, từ đó khiến ngân hàng lâm vào trạng thái khánh kiệt tài chính và gặp rủi ro. Strobel và Lepetit (2014), cho đến thời điểm hiện tại, Z-score được xem như là một chỉ số đại diện cho rủi ro ngân hàng và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu của: Boyd và cộng sự. Chỉ số Z-score cao hơn cho thấy ngân hàng ít gặp rủi ro và ổn định hơn.2 Tỷ ệ nợ ấu Đây là chỉ tiêu quan trọng dùng để đo lường rủi ro tín dụng của NHTM, tỷ lệ nợ xấu càng cao cho thấy ngân hàng đang gặp phải rủi ro tín dụng càng lớn.
Ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng ngân hàng vẫn phải trả vốn và lãi cho các khoản tiền huy động khi đến hạn. Điều này làm cho ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi. Nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng rất lớn, điều này làm ngân hàng mất vốn, suy giảm doanh thu và lợi nhuận từ đó gây ra rủi ro cho ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng có thể đo lường như sau: Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổn ƣ nợ tín dụng 2.2 Cá ếu tố ảnh hƣởn đến rủi ro Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng rủi ro là điều khó tránh khỏi.
Có rất nhiều yếu tố gây ra rủi ro cho ngân hàng, nhưng có thể tóm gọn thành hai yếu tố chính. Thứ nhất là nhóm yếu tố khách quan, bao gồm: điền kiện về kinh tế vĩ mô, chính trị pháp luật, thiên tai, khách hàng,…Thứ hai là nhóm yếu tố trong nội tại các ngân hàng về vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, cách quản lý khách hàng, quản lý doanh thu, chi phí, chiến lược hoạt động,… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Nhóm ếu tố há h qu n 2.1 Điều iện inh tế v mô Các chính sách vĩ mô của Chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng. Cụ thể trong nền kinh tế, trước những diễn biến của điều kiện kinh tế vĩ mô và định hướng phát triển nền kinh tế, Chính phủ thường đưa ra những chính sách liên quan đến vấn đề chính sách tiền tệ và các ngân hàng phải tuân theo, thực hiện các chủ trương và chính sách đó. Trong số những chính sách đề ra, có những chính sách có thể có lợi cho ngân hàng, nhưng cũng có thể khiến ngân hàng gặp bất lợi.
Khi mà ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trữ bắt buộc…điều này làm thay đổi các kế hoạch được định ra sẵn của ngân hàng. Lấy ví dụ như khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc cho vay. Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.