phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; đề tài đƣợc bố cục theo 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I. Tổng quan về các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng II. Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng III. Các giải pháp tác động các nhân tố ảnh hƣởng tích cực đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Thanh khoản của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm thanh khoản ngân hàng thƣơng mại Nhƣ chúng ta đã biết, trong nhiều công trình nghiên cứu, cụm từ “thanh khoản” đã đƣợc nhiều tác giả sử dụng tuy nhiên để định nghĩa nó thì không đơn giản. Định nghĩa thanh khoản mang tính trừu tƣợng và đòi hỏi sự tƣ duy cao.
Theo dòng lịch sử, thanh khoản đã song hành với sự phát triển của khái niệm tiền tệ và đã thay đổi theo quá trình mở rộng tài chính, trong một phạm vi rộng hơn, nó thay đổi theo sự cải tiến trong cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính. Lý thuyết tài chính cho rằng, với những bất hoàn hảo của thị trƣờng vốn, dịch chuyển nguồn vốn giữa những thành phần kinh tế trong một khoảng thời gian yêu cầu một lƣợng tài sản tài chính phi rủi ro thích hợp trong nền kinh tế: để lƣu giữ giá trị và là công cụ trao đổi đƣợc đông đảo những ngƣời tham gia trên thị trƣờng chấp nhận. Đó chính là định nghĩa tiền giấy hay tiền pháp định, tiền vừa đảm nhiệm chức năng là đơn vị hạch toán, vừa giữ chức năng là trung gian trao đổi. Ở đây đề cập đến một dạng thanh khoản truyền thống và đơn sơ nhất là thanh khoản tài sản.
Lý thuyết tài chính cũng lý giải vai trò của các ngân hàng thƣơng mại nhƣ là những nhà cung cấp tính thanh khoản: bởi chức năng trợ cấp những khoản vay hoặc nắm giữ những chứng khoán nợ sơ cấp đƣợc phát hành bởi các thành phần kinh tế có nhu cầu đƣợc cung cấp thêm vốn, bởi chức năng tập trung nguồn vốn từ những nhà đầu tƣ bằng cách phát hành chứng khoán nợ gián tiếp. Do sự phát triển lớn mạnh và nhất là những đặc tính trong hợp đồng của các chứng khoán nợ này nên chúng đã đƣợc chấp nhận nhƣ là một sự thay thế cho cơ sở tiền tệ hợp pháp. Điều này đã dẫn đến định nghĩa của khái niệm thanh khoản ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh6.
Một tài sản đƣợc xem là thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí sau: có sẵn số lƣợng để mua hoặc bán, có sẵn thị trƣờng để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch, giá cả hợp lý. Một nguồn vốn đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Trong thực tế những tài sản có tính thanh khoản cao gồm các giấy tờ có giá nhƣ: Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, lệnh phiếu, hối phiếu…những tài sản có tính thanh khoản thấp nhƣ bất động sản, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị… 1.
Cung-cầu thanh khoản ngân hàng thƣơng mại Cung thanh khoản là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng. Cung thanh khoản bao gồm: tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD khác, thu nhận tiền gửi từ khách hàng, khách hàng tín dụng hoàn trả các khoản gốc và lãi, bán các TSC của NHTM, vay từ thị trƣờng liên ngân hàng, thu từ các khoản nợ phải thu khác. Cầu thanh khoản: là các khoản vốn làm giảm ngân quỹ của ngân hàng, là các nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng. Cầu thanh khoản bao gồm: hoàn trả tiền gửi cho khách hàng, hoàn trả các khoản đi vay, chuyển tiền thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, chi các khoản chi phí hoạt động, chi trả các khoản nộp ngân sách nhà nƣớc, trả cổ tức, chi trả các khoản nợ khác… Trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, với các chi tiết về nguồn và sử dụng nguồn thanh khoản có thể đƣợc các nhà quản trị thiết lập để phục vụ nhu cầu quản trị thanh khoản.
Theo đó, trạng thái thanh khoản ròng đƣợc xác định nhƣ sau: 6 PGS. Trần Huy Hoàng, Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Lao động –Xã hội, 2011 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trạng thái thanh khoản ròng = cung thanh khoản – cầu thanh khoản Nếu cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản thì ngân hàng ở trạng thái thặng dƣ thanh khoản và ngƣợc lại ngân hàng ở trạng thái thâm hụt thanh khoản. Trạng thái thanh khoản cân bằng xảy ra khi cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản tuy nhiên điều này gần nhƣ khó xảy ra trong thực tế. Thặng dƣ hay thiếu hụt đều diễn tả tình trạng mất cân bằng của ngân hàng.
Thặng dƣ thanh khoản xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thiếu những cơ hội đầu tƣ và kinh doanh. Thặng dƣ thanh khoản cũng xảy ra khi một ngân hàng thiếu những phƣơng pháp và khả năng tiếp cận thị trƣờng, khách hàng. Các nguyên nhân khác gây ra thặng dƣ còn có: ngân hàng không khai thách hết những tài sản có khả năng sinh lời, hoặc nguồn vốn tăng trƣởng quá nhanh so với quy mô hoạt động và khả năng quản lý. Trong khi đó, thiếu hụt thanh khoản là việc ngân hàng không có đủ vốn để hoạt động.
Các hậu quả của thiếu hụt thanh khoản có thể gây ra những vấn đề trầm trọng hơn cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng nhƣ việc mất đi những cơ hội kinh doanh, mất khách hàng, mất thị trƣờng, làm sụt giảm lòng tin của công chúng… 1. Rủi ro thanh khoản ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản ngân hàng thƣơng mại Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm nhƣ chi trả tiền gửi, giải ngân cho vay, thực hiện chuyển khoản thanh toán, hoàn trả các khoản đi vay, chi phí nghiệp vụ và thuế, chi trả cổ tức…Nếu một NHTM mất khả năng đáp ứng các nhu cầu này thì có thể nói NHTM đã rơi vào tình trạng khó khăn thanh toán. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trƣờng hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 mƣợn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.7 Rủi ro thanh khoản ngân hàng liên kết với khả năng đáp ứng nghĩa vụ của ngân hàng đối với ngƣời gửi tiền ở ngân hàng họ cũng nhƣ việc chuyển tiền gửi thành tiền mặt khi cần thiết và chức năng duy trì sự cân bằng giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra.
Những dòng tiền này đƣợc quản lý dƣới sự điều hành và kiểm soát của ngân hàng trung ƣơng, nó đảm bảo tính sẵn có của cơ sở tiền tệ cần thiết để giữ vững sự phát triển của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro quan trọng bậc nhất đối với các ngân hàng thƣơng mại nói riêng và các tổ chức tài chính nói chung. Trong thực tế có không ít trƣờng hợp, một tổ chức kinh tế có tài sản nhiều, nợ rất ít nhƣng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố rủi ro thanh khoản của tài sản không bù đắp nổi khả năng thanh toán trong thời điểm đó. Ở mức nhẹ hơn, rủi ro này có thể gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh của tổ chức đó trong một thời điểm cụ thể.
Dựa vào nguồn gốc dẫn tới rủi ro thanh khoản của các NHTM, có thể phân loại rủi ro thanh khoản thành 3 nhóm: Rủi ro thanh khoản xuất phát từ tài sản nợ: có thể phát sinh khi ngƣời gửi tiền rút tiền trƣớc hạn và cả khi đến hạn nhƣng NHTM không sẵn có nguồn vốn để thanh toán, chi trả. Với một lƣợng tiền gửi đƣợc yêu cầu rút ra lớn và đột ngột buộc các NHTM phải đi vay bổ sung trên thị trƣờng tiền tệ, phải huy động vốn đột xuất với chi phí vƣợt trội, hoặc bán bớt tài sản để chuyển hóa thành vốn khả dụng đáp ứng nhu cầu chi trả. Để đáp ứng nhu cầu ngay lập tức NHTM có thể phải bán tài sản với giá thấp hơn thị trƣờng hoặc vay với lãi suất cao để có lƣợng vốn khả dụng cần thiết. Rủi ro thanh khoản xuất phát từ tài sản có: phát sinh liên quan đến việc thực hiện các cam kết tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng.
Trong trƣờng hợp khách hàng vay yêu cầu NHTM thực hiện các cam kết tín dụng thì NH phải đảm bảo đủ thanh khoản để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu không NH sẽ phải đối mặt với rủi ro. 7 Nguyễn Đăng Dờn, Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại, Nxb Phƣơng Đông, 2010. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Tƣơng tự nhƣ rủi ro xuất phát từ tài sản nợ, NHTM sẽ phải huy động thêm nguồn vốn mới với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp. Rủi ro thanh khoản xuất phát từ hoạt động ngoại bảng: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ tài chính phái sinh, rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại bảng cũng ngày càng tăng.
Khi mà các nghĩa vụ thanh toán bất thƣờng xảy ra nhƣ các cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi hay hợp đồng quyền chọn. Các hợp đồng đó đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản. Khi đó, NHTM có thể phải đối mặt với rủi ro thanh khoản nếu không có kế hoạch chuẩn bị nguồn thanh khoản kịp thời, không có những tài sản nhanh chóng hay dễ dàng chuyển thành tiền, những công cụ có thể giao dịch trên thị trƣờng tiền tệ.