Chương 1: Giới thiệu chung, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến CTV của ngành tài chính trên thế giới và tại Việt Nam. Từ đó xác định các nhân tố chính ảnh hưởng đến CTV của các NHTM tại Việt Nam. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, cơ sở dữ liệu; thu thập và xử lý dữ liệu, mẫu nghiên cứu cũng như mô hình hồi quy sử dụng và các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu mang tính định lượng thu được từ mô hình hồi quy. Chương 5: Kết luận và một số đề xuất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Các nghiên cứu trƣớc đây về các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn ngành tài chính – ngân hàng Có thể nói rằng cơ cấu vốn là một trong các chủ đề quan trọng của lý thuyết tài chính doanh nghiệp hiện đại, cơ cấu vốn lần đầu tiên được đưa ra bởi Modigliani và Miller (1958).
Kể từ đó, có vài lý thuyết đã được phát triển nhằm giải thích sự khác biệt trong lựa chọn cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Đặc biệt, có hai mô hình lý thuyết phổ biến và nổi tiếng nhất đã giải thích mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và giá trị doanh nghiệp đó là: lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (The trade-off theory) và lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory). Việc vận dụng và kiểm tra tính thực tiễn các lý thuyết cổ điển và hiện đại này đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh một số nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả tán đồng với các lý thuyết trên thì vẫn còn nhiều kết quả nghiên cứu trái chiều nhau.
Để có cơ sở mở rộng và tìm hiểu các nhân tố tác động lên CTV của các NHTM tại Việt Nam nhằm hỗ trợ cho đề tài nghiên cứu được hiệu quả hơn, tác giả đã đi tìm hiểu một số công trình nghiên cứu mang tính thực nghiệm về CTV Ngân hàng và các công ty ngành tài chính trên thế giới cũng như một số bài nghiên cứu đã được thực hiện ở Việt Nam. Qua các bài nghiên cứu đó, tác giả có thể tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến CTV Ngân hàng mang tính đại diện và có thể ứng dụng vào phân tích tại các NHTM Việt Nam. Cụ thể các công trình nghiên cứu được tác giả tóm lược như sau: 2. Công trình nghiên cứu của Mohammed Amidu về việc “xác định cấu trúc vốn của các Ngân hàng ở Ghana: phương pháp thực nghiệm” (2007) Nội dung nghiên cứu: mục đích của công trình này nhằm nghiên cứu những chức năng liên quan đến việc xác định CTV của các Ngân hàng ở Ghana.
Công trình nghiên cứu đã đưa ra kết quả rằng tỷ suất sinh lợi (Profitability), thuế doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- nghiệp (Corporate tax), tăng trưởng (Growth), cấu trúc tài sản (Asset structure) và quy mô Ngân hàng (Bank size) ảnh hưởng đến quyết định tài chính và CTV Ngân hàng. Ý nghĩa tìm thấy trong bài này đó là hơn 87% tài sản của Ngân hàng được tài trợ bởi nợ và ngoài điều này ra, nợ ngắn hạn chiếm hơn ¾ trong CTV Ngân hàng. Chính điều này làm nổi bật tính quan trọng của nợ ngắn hạn hơn so với nợ dài hạn trong tài chính của Ngân hàng Ghana. Mô hình nghiên cứu: mẫu nghiên cứu được chọn bao gồm tất cả các Ngân hàng dưới sự giám sát của Ngân hàng trung ương quốc gia.
Và chỉ 19 Ngân hàng đủ điều kiện cho bài nghiên cứu này. Thời gian đề xuất nghiên cứu từ năm 1998 đến năm 2003. Bài viết đưa ra 03 biến phụ thuộc là đòn bẩy tài chính, đòn bẩy tài chính ngắn hạn và đòn bẩy tài chính dài hạn. Mô hình cho bài nghiên cứu này dựa theo mô hình được sử dụng bởi Ooi (1999) để giải thích mối quan hệ giữa CTV và định thức.
Bài nghiên cứu cũng sử dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS) giữa biến phụ thuộc và 06 biến độc lập. Cụ thể mô hình như sau: LEVi,t = β0 + β1PREi,t + β2GRWi,t + β3TAXi,t + β4ASTi,t + β5RSKi,t + β6SZEi,t + e LONGi,t = β0 + β1PREi,t + β2GRWi,t + β3TAXi,t + β4ASTi,t + β5RSKi,t + β6SZEi,t + e SHORTi,t = β0 + β1PREi,t + β2GRWi,t + β3TAXi,t + β4ASTi,t + β5RSKi,t + β6SZEi,t + e Trong đó: Biến phụ thuộc bao gồm: LEVi,t là biến đòn bẩy tài chính được đo lường bằng tổng nợ/tổng vốn cho Ngân hàng i trong thời gian t. LONGi,t là biến đòn bẩy tài chính dài hạn được đo lường bằng nợ dài hạn/tổng vốn cho Ngân hàng i trong thời gian t. SHORTi,t là biến đòn bẩy tài chính ngắn hạn được đo lường bằng nợ ngắn hạn/tổng vốn cho Ngân hàng i trong thời gian t.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -10- Biến độc lập bao gồm: PRE : là biến tỷ suất sinh lợi được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản. GRW: là biến tăng trưởng kinh doanh được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm thay đổi trong doanh thu. TAX: là biến về thuế được đo lường bằng thuế thu nhập doanh nghiệp/lợi nhuận trước thuế. AST: là biến cấu trúc tài sản được đo lường bằng tỷ lệ tài sản cố định/tổng tài sản.
RSK: biến rủi ro được đo lường bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận. SZE: biến quy mô Ngân hàng được đo lường bằng logarit của tổng tài sản. Kết quả nghiên cứu: nhìn chung, các biến được kiểm tra thì phù hợp với các tranh luận của lý thuyết đánh đổi tĩnh và lý thuyết trật tự phân hạng, ngoại trừ biến rủi ro. Bài nghiên cứu cũng nhấn mạnh tính quan trọng về sự khác biệt giữa nợ dài hạn và nợ ngắn hạn khi kết luận về CTV.
Cần phải đưa ra một tỷ lệ nợ ngắn hạn cao ở mức tương đối tài trợ cho các Ngân hàng ở Ghana. Tuy nhiên, sự phân chia khoảng thời gian nợ trong yếu tố cấu thành ngắn hạn và dài hạn, được tìm thấy rằng cấu trúc nợ dài hạn thì tương quan cùng chiều và có tính thống kê để điều tiết tài sản. Kết quả cũng nêu lên rằng nợ ngắn hạn của Ngân hàng thì tương quan ngược chiều với tỷ suất sinh lợi, rủi ro và cấu trúc tài sản; tương quan cùng chiều với quy mô Ngân hàng, tăng trưởng và thuế doanh nghiệp. Một phương diện khác, nợ dài hạn của Ngân hàng tương quan cùng chiều với cấu trúc tài sản của Ngân hàng và tỷ suất sinh lợi; tương quan ngược chiều với rủi ro Ngân hàng, tăng trưởng, quy mô và thuế thu nhập doanh nghiệp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -11- Bài nghiên cứu phát hiện ra rằng hơn 87% tài sản của Ngân hàng Ghana được tài trợ bởi nợ và nợ ngắn hạn chiếm hơn ¾ CTV của Ngân hàng. Bằng chứng thực nghiệm trong bài nghiên cứu này đồng ý rằng tỷ suất sinh lợi, thuế thu nhập doanh nghiệp, tăng trưởng, cấu trúc tài sản và quy mô Ngân hàng là những biến quan trọng và ảnh hưởng tới CTV Ngân hàng. Kết quả này phù hợp với lý thuyết được phát triển trong tài chính doanh nghiệp hiện đại để giải thích CTV trong công ty, bao gồm các tranh luận đánh đổi tĩnh được sử dụng trong các tranh luận về phá sản, chi phí đại diện, chi phí thuế và lý thuyết trật tự phân hạng. Tuy nhiên, nhân tố rủi ro Ngân hàng không có ý nghĩa thống kê.
Công trình nghiên cứu của Reint Gropp và Florian Heider về “Xác định cấu trúc vốn Ngân hàng” (2009) Nội dung nghiên cứu: bài nghiên cứu trình bày về bảo hiểm tiền gửi và sự điều tiết vốn là một yếu tố quan trọng thứ yếu trong việc xác định CTV của các Ngân hàng lớn ở Mỹ và Châu Âu trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2004. Thay vì, các định thức chéo theo chuẩn của tỷ lệ đòn bẩy tài chính được các công ty phi tài chính chuyển vào kỳ tiếp theo trong khi Ngân hàng thì không thực hiện, chỉ ngoại trừ tỷ lệ vốn của các Ngân hàng bị giới hạn về quy định vốn tối thiểu. Để phù hợp với quy tắc giảm của bảo hiểm tiền gửi, bài viết đã dẫn chứng một sự thay đổi trong cấu trúc thanh khoản của Ngân hàng là loại bỏ tiền gửi để hướng tới thanh khoản không có tiền gửi. Bài nghiên cứu còn tìm thấy những ảnh hưởng cố định bất biến về thời gian trong Ngân hàng không được đề cập đến là yếu tố quan trọng nhất của CTV Ngân hàng và tỷ lệ đòn bẩy của Ngân hàng tập trung đến đặc tính Ngân hàng, chỉ tiêu bất biến về thời thời gian.
Mô hình nghiên cứu: dữ liệu của bài nghiên cứu được thu thập từ bốn nguồn bao gồm: bảng cân đối hợp nhất và báo cáo thu nhập ở dạng cơ sở dữ liệu của Bureau van Dijk, thông tin về giá chứng khoán của Ngân hàng và cổ tức từ cơ sở dữ liệu Datastream của Thompson Financial, thông tin về dữ liệu kinh tế với mức độ quốc gia từ dữ liệu tổng quan kinh tế thế giới của IMF và dữ liệu trên lịch trình bảo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -12- hiểm tiền gửi từ Ngân hàng thế giới. Mẫu nghiên cứu từ năm 1991 đến cuối năm 2004. Đối tượng nghiên cứu trên 100 NHTM lớn nhất ở Mỹ, 100 NHTM lớn nhất ở 15 nước thuộc Liên Minh Châu Âu. Mẫu nghiên cứu của bài viết bao gồm 2.415 mẫu quan sát qua các năm của Ngân hàng.
Mô hình nghiên cứu như sau: Lict = β0 + β1MTBict-1 + β2Profict-1 + β3Ln(Sizeict-1) + β4Collict-1 + β5Divict + cc + ct + uict Trong đó: Lict: biến đại diện cho CTV là đòn bẩy tài chính. Bài viết đã sử dụng đòn bẩy tài chính sổ sách và đòn bẩy tài chính thị trường để nghiên cứu mô hình CTV đối với ngành Ngân hàng. + Công thức đòn bẩy tài chính sổ sách được đo lường = 1 – (VCSH sổ sách/giá trị tài sản sổ sách). + Công thức đòn bẩy tài chính thị trường được đo lường = 1 – [VCSH thị trường (= số lượng cổ phiếu * giá cổ phiếu cuối năm)/giá trị thị trường của Ngân hàng (=VCSH thị trường + giá trị nợ phải trả sổ sách)].
MTBict-1: biến tỷ số giá thị trường so với giá trị sổ sách được đo lường bằng giá trị tài sản thị trường/giá trị tài sản sổ sách. Profict-1: biến lợi nhuận được đo lường = (lợi nhuận trước thuế + chi phí lãi vay)/giá trị tài sản sổ sách. Sizeict-1: biến quy mô Ngân hàng được đo lường bằng logarit của giá trị tài sản theo sổ sách.