CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA THẺ NGÂN HÀNG 1. Nguyên nhân ra đời của thẻ Ngân hàng Để có thể hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của thẻ Ngân hàng, một hình thức thanh toán vốn cũng còn mới mẻ đối với nước ta thì trước hết ta nên biết do đâu mà thẻ Ngân hàng ra đời. Có thể nói, thẻ Ngân hàng ra đời là do một số nguyên nhân cơ bản sau: - Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa những nhà sản xuất kinh doanh trong việc mở rộng thị trường, nâng cao số lượng khách hàng, ngoài việc phải cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thì những nhà sản xuất còn phải chấp nhận việc thanh toán trả chậm của khách hàng, bán hàng ghi sổ hay thu tiền sau một thời gian theo thỏa thuận.
- Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, kéo theo nhu cầu chi tiêu mua sắm hàng ngày của họ cũng tăng. Trong khi đó có thể họ không có đủ tiền để mua sắm nhiều loại hàng hóa cùng một lúc. Và điều này dẫn đến nhu cầu mua trước trả tiền sau. - Những thành tựu vượt bậc của công nghệ tin học và viễn thông hiện đại đã được nhanh chóng ứng dụng vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội.
Kỹ thuật tin học phát triển đã giúp cho Ngân hàng mở rộng khả năng ứng dụng tin học vào công nghệ thanh toán làm cho kỹ thuật thanh toán qua Ngân hàng ngày càng hiện đại và tinh vi. - Sự cạnh tranh ngày càng nhiều giữa các Ngân hàng với những tổ chức tài chính khác buộc Ngân hàng phải thay đổi chiến lược hoạt động, hiện đại hóa công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ---Trang 5--- nghệ thanh toán, cung cấp cho khách hàng nhiều sản phẩm dịch vụ thanh toán tiện lợi, an toàn và văn minh. Quá trình phát triển của thẻ Ngân hàng: Ngành công nghiệp thẻ Ngân hàng là một ngành kinh doanh mới và thật sự chỉ mới phát triển trong vòng 25 năm qua. Mối quan hệ giữa khách hàng và đại lý bán hàng là trung tâm của ngành công nghiệp thẻ.
Lịch sử thẻ Ngân hàng bắt nguồn từ việc những đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng của họ, tức là cho phép khách hàng của họ mua hàng trước trả tiền sau nhằm nâng cao doanh số bán hàng và thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Nhiều đại lý nhỏ cũng muốn cung cấp dịch vụ này cho khách hàng của họ nhưng họ cảm thấy mình không có đủ khả năng. Và điều này đã tạo cơ hội cho những tổ chức tài chính vào cuộc. Hình thức đầu tiên của thẻ Ngân hàng là Charg-It, một hệ thống tín dụng được phát triển bởi John Biggins vào năm 1946, cho phép khách hàng mua hàng ở những điểm bán lẻ địa phương.
Những đại lý bán hàng sẽ ký quỹ tại Ngân hàng Biggins, Ngân hàng sẽ hoàn trả lại khoản tiền trong giao dịch mua bán cho các đại lý và sau đó sẽ thu lại tiền từ khách hàng. Chính hệ thống này đã mở đường cho Ngân hàng Franklin National ở Long Island phát hành thẻ tín dụng đầu tiên vào năm 1951. Để sử dụng loại thẻ này, khách hàng cần điền vào một lá đơn xin cấp một khoản tín dụng và sau đó sẽ được thẩm tra lý lịch cá nhân xem có đủ điều kiện để sử dụng thẻ hay không. Khi được sự đồng ý của Ngân hàng, khách hàng sẽ được cung cấp một tấm thẻ mà có thể sử dụng để thanh toán tiền hàng tại những điểm bán lẻ.
Trong khi bán hàng, chủ cơ sở sẽ lưu lại những thông tin trên thẻ của khách hàng vào hóa đơn. Đối những giao dịch mà số tiền vượt quá một giá trị đã định trước bởi tổ chức tài chính thì đại lý phải gọi điện cho Ngân hàng phát hành để xin chấp nhận giao dịch. Sau đó Ngân hàng phát hành sẽ ghi Có vào tài khoản của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ---Trang 6--- đại lý số tiền giao dịch sau khi trừ đi khoản chiết khấu để bù đắp chi phí cho việc cấp tín dụng. Hầu hết các chủ thẻ đều tỏ ra thích thú khi sử dụng loại thẻ này.
Mặc dù phải hoàn trả lại toàn bộ số dư vào cuối mỗi tháng nhưng xem ra họ được hưởng một món vay miễn phí trong vòng một tháng. Cũng qua hình thức thanh toán này, những cơ sở kinh doanh nhận ra rằng: khách hàng thích sử dụng thẻ để mua hàng và họ mua nhiều hơn so với khi sử dụng tiền mặt. Và do đó doanh số bán hàng tại những cơ sở kinh doanh cũng tăng lên đáng kể. Đồng thời sử dụng thẻ thanh toán cũng an toàn hơn so với sử dụng các loại séc cầm tay vốn không được đảm bảo.
Nhiều năm sau đó, ngày càng có nhiều tổ chức tài chính tham gia vào việc phát hành thẻ tín dụng. Vào năm 1959, nhiều tổ chức phát hành thẻ đã cho ra đời một loại dịch vụ mới: đó là tín dụng tuần hoàn. Với loại hình dịch vụ này, chủ thẻ có thể duy trì một số dư trên tài khoản cho đến các tháng sau nhưng họ phải trả lãi trên số dư chưa được hoàn trả đó. Khoản tiền lãi này được gọi là phí tài chính (Finance Charge).
Và trong hình thức thanh toán này, thành viên tham gia đơn giản chỉ gồm tổ chức phát hành thẻ, chủ thẻ và đại lý chấp nhận thẻ. Năm 1960, Bank of America giới thiệu sản phẩm mới của riêng Ngân hàng mình, thẻ BankAmericard. Khởi đầu với một nhóm nhỏ các chủ thẻ và đại lý chấp nhận thẻ, Ngân hàng sau đó đã cho phép các tổ chức tài chính phát hành thẻ dưới danh nghĩa của BankAmericard trong từng khu vực địa lý. Chỉ một vài năm sau đó, BankAmericard đã nhanh chóng phát triển, và ngày càng nhiều tổ chức tài chính trên khắp nước Mỹ đứng ra làm Ngân hàng đại lý phát hành loại thẻ thanh toán này.
Trước những thành công đáng kể của BankAmericard, nhiều tổ chức phát hành thẻ khác trên toàn nước Mỹ tích cực tìm mọi cách để cạnh tranh với BankAmericard. Vào năm 1966, 14 Ngân hàng Mỹ đã liên kết lại thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association – ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin về các giao dịch thẻ tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ---Trang 7--- Năm 1967, 4 Ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States Bankcard Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với những tổ chức tài chính khác ở phía Tây nước Mỹ.
Sản phẩm thẻ của WSBA được biết đến dưới tên gọi là MasterCharge. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thương hiệu của MasterCharge. Và điều này đã tạo cho MasterCharge sức mạnh đủ để cạnh tranh với BankAmericard. Thật vậy, nhiều tổ chức tài chính quan tâm đến vấn đề phát hành thẻ ở Mỹ đều là thành viên hoặc của tổ chức BankAmericard hoặc của tổ chức MasterCharge.
Những Hiệp hội ngân hàng cũng đã liên kết với những thành viên của mình cùng gánh chịu những chi phí của việc phát hành thẻ và điều này giúp cho những tổ chức tài chính nhỏ hơn cũng có thể thực hiện chương trình này. Nhờ đó các Ngân hàng phát hành có thể tăng thêm lượng khách hàng dựa trên việc mở rộng những địa điểm phục vụ trực tiếp ở những vùng khác nhau. Đây thật sự là một ngành kinh doanh sinh lợi, tất cả những thành viên tham gia đều có thể kiếm lợi từ hệ thống này. Điều này dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng về tài khoản chủ thẻ, tài khoản đại lý, và số lượng thẻ bán ra.
Là một ngành công nghiệp còn non trẻ, nhu cầu về sự phát triển rộng hơn ở cấp độ địa phương, thậm chí cấp độ một quốc gia là một nhu cầu tất yếu. Để thẻ ngân hàng thu hút nhiều chủ thẻ hơn thì cần phải có một hệ thống đại lý chấp nhận thẻ rộng hơn. Và để có thể phát triển được mạng lưới đại lý rộng hơn thì lại cần có sự ủng hộ của một lượng lớn chủ thẻ. Nhu cầu này đã dẫn đến việc gửi thư giới thiệu hàng loạt đến khách hàng.
Tuy nhiên hình thức này không nhận được sự ủng hộ của khách hàng. Những túi thư về thẻ ngân hàng đều bị đánh cắp và khách hàng không hề biết rằng Ngân hàng đã gửi thư có kèm thẻ ngân hàng đến cho mình, và do đó họ cũng không quan tâm đến việc đánh cắp đó. Bên cạnh đó, việc gian lận về thẻ bị đánh cắp và việc chủ thẻ sử dụng vượt hạn mức đã trở thành vấn đề gây đau đầu cho nhà phát hành và điều này dẫn đến sự tổn thất lớn cho tổ chức phát hành. Các Ngân hàng phát hành rơi vào tình trạng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ---Trang 8--- tuyệt vọng trong việc tìm kiếm một hệ thống chuẩn mực và hiệu quả để kiểm soát dòng lưu thông của thẻ.
Interbank (MasterCharge) và Bank of America (BankAmericard) đã tạo ra bước tiến mới cho ngành công nghiệp thẻ. Họ đã tạo ra một hệ thống xử lý quốc tế để kiểm soát sự trao đổi tiền, thông tin và cũng đã thiết lập được bộ phận trọng tài nhằm giải quyết những tranh chấp nếu có giữa các thành viên. Năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính châu Âu và hình thành nên thẻ Eurocard. Năm 1977, BankAmericard trở thành Visa International.
Năm 1979, MasterCharge đổi tên thành MasterCard để chứng tỏ vị thế thống lĩnh thị trường và phát triển thêm những dịch vụ mới. Khi hệ thống này trở nên phức tạp hơn, nhiều công ty dịch vụ ngoài ngành đã bắt đầu bán những dịch vụ xử lý cho những thành viên của MasterCard và Visa. Điều này đã làm giảm chi phí cho Ngân hàng phát hành và Ngân hàng thanh toán, kéo theo sự mở rộng về số lượng thành viên tham gia vào chương trình này. MasterCard và Visa, hai tổ chức thẻ lớn, cùng nhau phát triển và hàng năm kiếm lợi khoảng hàng trăm tỷ đôla.
Đây thật sự là một ngành công nghiệp phát triển, ngành công nghiệp chỉ mới ra đời cách đó 25 năm. Một số tổ chức thẻ quốc tế thông dụng Diners Club: Sản phẩm thẻ của tổ chức này được xem là loại thẻ du lịch và giải trí (T&E: Travel and Entertainment) được phát hành đầu tiên vào năm 1949. Năm 1960, là loại thẻ đầu tiên có mặt tại thị trường Nhật Bản. Năm 1993, có 1,5 triệu thẻ Diners Club được sử dụng trên toàn thế giới với doanh số 7,9 tỷ USD.
American Express (Amex): TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.