Chương I: Mở dau: giới thiệu mục tiêu- nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Phan nội dung chính được truyền tai trong 3 chương chính: Chương II: Cơ sở lý thuyết: giới thiệu ý niệm và cách tinh chất lượng cuộc sông và bản đồ đa biến. Chương III: Kết quả và thảo luận: trình bày phương pháp thực hiện, kết quả cụ thể là các bản đồ và phân tích trên các sản phẩm kết quả này. Chương IV: Kết luận.
HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -12- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Lê Minh Vinh NOI DUNG CHUONG II: CO SO LY THUYET Van dé nghiên cứu cua đê tai liên quan dén hai nội dung chính: Các chỉ sô thê hiện chat lượng cuộc sông và ban đô đa biên. CHISO CHAT LƯỢNG CUOC SÓNG 2. Y niệm về chất lượng cuộc sống Theo R.Sharma [28], thì CLCS là một khái niệm phức tap, nó doi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội.
Ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tô đó được coi là quan trọng nhất đối với ban thân một con người”. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Khi nói CLCS là phải nói tới sự tổng hợp của cả bốn nhân tố: một là, nhân tố kinh tế (GDP - tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người); hai là, giáo dục thông qua các tiêu chí về xóa nạn mù chữ và số năm học bình quân; ba là, sức khỏe con người thông qua tuôi thọ bình quân và bốn là, nhân tố môi trường (bao gồm, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường kỹ thuật). Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn, như gan quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái.Theo đó, CLCS được đặc trưng bởi 12 yếu tổ [27]: (1) An toàn.
(2) Sung túc về kinh tế. (3) Công băng theo pháp luật. (4) An ninh quốc gia. HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -13- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS.
Lê Minh Vinh (5) Được bảo hiểm lúc già, ốm đau. (6) Hạnh phúc tinh thần. (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội. (8) Bình đắng vẻ giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi.
(9) Chất lượng đời sống văn hoá. (10) Quyền tự do công dân. (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật giao thông, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế. (12) Chất lượng môi trường sống.
Các chỉ số đo lường chất lượng cuộc sống Để có thé do lường CLCS, nhiều nghiên cứu đã được đặt ra nhằm lượng hóa ý niệm CLCS thông qua các chỉ số. Có nhiều chỉ số đã được đưa ra như: chỉ số tiến bộ đích thực GPI (Genuine Progress Indicator), chỉ số hạnh phúc hành tinh HPI (Happy Planet Index), thước do vị thé giới tính GEM (Gender Empowerment Measure), chỉ số phát triển con người HDI (Human development index), chỉ số phát triển giới GDI (Gender-related Development index), chỉ số chất lượng cuộc sống QLI (Quality of life Index). Bhutan là nước dau tiên đưa ra khái niệm “tổng hạnh phúc quốc gia” (gross national happiness-GNH) thay cho GDP, với công thức dựa trên bốn mục tiêu: phát triển kinh tế - xã hội bền vững/ bảo vệ môi trường/ bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống/ một chính quyên hoạt động hiệu quả và trong sạch, thậm chí các nghiên cứu còn có chỉ số giờ ngủ bình quân của một người trong năm, bảo tồn nguyên vẹn những cánh rừng nguyên sinh đang che phủ hơn 72%, cắm săn bat và đánh cá; là nước duy nhất cam được chuyện hút thuốc lá trong dân chúng. Do đó đất nước này còn có tên gọi là “chốn dia đàng cudi cùng”-(The last Shangri-la) - (Trích dẫn báo Thanh Niên - số phát hành ngày 20/5/2013).
HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -l14- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Lê Minh Vinh Ở Việt Nam thì vẫn chưa đủ co sở dé tính toán chỉ số này, nên chi sử dung những thước đo để lượng hóa chỉ SỐ phát triển con người thể hiện chất lượng cuộc sống mà thế giới đã áp dụng rộng rãi. Hiện nay tiêu chí đánh giá CLCS của một nước thường dựa trên bảng chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc. Chỉ số phát triển con người - một tiêu chí tong hợp phản ánh CLCS Hàng năm, tuy với nhiều chủ đề khác nhau, các báo cáo PTCN (Phát Triển Con Người) đã cho thay bức tranh phát triển khá toàn diện của gan 180 quốc gia trên thé gIỚI.
Mỗi chỉ số đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định, nhưng chỉ số Phát triển con người (HDI) của UNDP được công bố vào năm 1990 được giới học giả và các nhà hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và cho là chỉ số khoa học nhất. Bằng một phương pháp luận đo đạc và tính toán khá công phu và có ý nghĩa so sánh quốc tế, các báo cáo PTCN đã đưa ra một hệ thong các chỉ số HDI, với tư cách vừa là công cụ đo đạc và đánh giá tiềm năng phát triển của một quốc gia, vừa là sự minh hoạ một cách khoa học về chất lượng cuộc sống của con người [5]. HDI được phát triển năm 1990 bởi nhà kinh tế người Pakistan Manbub ul Haq và nhà kinh tế An Độ Amartya Sen. Sau đó được Liên Hợp Quốc sửa đổi và đưa vào thực hiện ban đầu vào năm 1994.
HDI bao quát ba lĩnh vực: Sức khỏe (thé hiện qua tuổi thọ), kiến thức (thé hiện qua giáo dục), mức sống (thé hiện qua thu nhập) của cộng đồng dân cư. Chỉ số HDI ngày nay trở thành thước đo tiêu biểu phản ánh sự phát triển của mỗi quốc gia. Mo hình tính HDI Hiện nay, trên thế giới đã và đang sử dụng một số mô hình sau để tính HDI: a) Chỉ số HDI theo mô hình 3 nhân to - Mô hình tam giác, bao gồm: Sức khoẻ - Giáo dục - Thu nhập Mô hình HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -15- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Lê Minh Vinh Chi sé Giao duc Thu nhap b) Chi số HDI theo mô hình 4 nhân tố - Mô hình hình thoi, bao gồm Sức khoẻ - Giáo dục - Thu nhập và Lành mạnh xã hội Nhiều nước trên thế giới đã tính thêm chỉ số Lành mạnh xã hội nhăm phản ánh khả năng phòng ngừa tệ nạn của cộng đồng.
Mô hình go PR, fa ny ame _ ¡số \ / \ / Chỉ sô Chỉ số ` Lành mạn , xã hội HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -16- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Lê Minh Vinh c) Chỉ số HDI theo 5 nhân té- Mô hình sao, bao gồm: Sức khée-Gido duc- Thu nhập-Lành Mạnh xã hội-Phát triển văn hóa cộng đồng. Trong đời sống hàng ngày thì có ngu6n thu nhập cao đều là ước vọng của moi người. Nếu con người có đời sống tinh than, lợi ích phi vật chất, trong đó bao gồm ca các quyền hưởng thu giá trị văn hoá, trang thái tinh than, hoà nhập với ý thức cộng đồng.
thì đồng nghĩa với việc tạo ra giá trị lao động cao hơn, năng suất hơn, thoả mãn nhu cầu hơn. Xuất phát từ sự phân tích trên, nhiều nước trên thế giới đã đưa thêm chỉ số Phát triển văn hoá cộng đồng để tính chỉ số HDI. Mô hình \ = Chỉ so / \ Chi sé a “Thu nhập Giáo duc ~~ > Ss / TM TM HDI Z X Z ~~ k< Rites -~ Chi số Chỉ sẽ PRat~ ~~ Lanh trien VH CD~ ` mạnh wa ¬xH / as oe \ ae / 2 <6 ` fia Qua các mô hình tính toán thì các nhân tô đều đóng vai trò như nhau trong mô hình: Các chỉ số thành phần tức chỉ số sức khỏe, chỉ số giáo dục, chỉ số thu nhập, chỉ số lành mạnh xã hội và chỉ số phát triển văn hoá cộng đồng đều đóng góp như nhau vào trị giá của chỉ số phát triển con người HDI; càng gan 1 thì trình độ phát triển con người cảng cao và ngược lại. Tuy đã có những đề xuất bố sung thêm nhân tố, nhưng do chưa có những nghiên cứu tính toán cụ thể cho các chỉ số chỉ số lành mạnh xã hội và chỉ số phát triển văn hoá cộng đồng, hiện nay chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã, đang tiếp tục dùng phương pháp tính chỉ số phát triển con người theo ba nhân tố, nghĩa là HDI được tổng hop từ ba yếu tố thành phan gồm các yếu tổ sức khỏe, giáo dục và thu nhập.
d) Cách tinh cu thé HVTH: Dinh Thị Kim Phuong -17- MSHV: 11104479 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS. Lê Minh Vinh Đề tính được giá tri HDI, trước hết cần phải tính ba chỉ số thành phan: sức khỏe, giáo dục và thu nhập. Quy tac chung để tính các chỉ số thành phan nay là sử dụng các giá trị toi thiểu và tối đa cho từng chỉ số theo công thức sau: Giá trị thực — Giá trị tôi thiêu Chỉ sô thước do thành phan= Giá trị tôi đa — Giá trị tôi thiêu - Về sức khoẻ: Nói chung nếu con người khoẻ mạnh thì cuộc sống sẽ trường thọ. Ngược lại, trường thọ là một biểu hiện của một cơ thể khoẻ mạnh.
sức khoẻ được “lượng hoá” bằng chỉ tiêu tuổi thọ trung bình hay còn gọi là kỳ vọng sống trung bình được tính từ khi sinh ra. - Về Giáo dục: Được đánh giá băng kiến thức, hay còn gọi là trình độ tri thức, là sự tong hợp theo tỷ lệ biết chữ của người lớn (với trọng số 2/3) và tỷ lệ nhập học của tat cả các cấp (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và sau trung học với trọng số tong cộng chung là 1/3). - Về Thu nhập: Được đo bang giá trị GDP bình quân đầu người thực tế được điều chỉnh theo sức mua tương đương (PPP-Purchasing Power Parity tính bằng USD). Tổng hợp ba chỉ số thành phan, ta có được công thức sau: mpri-=?5z+5 Với I, là chỉ số sức khỏe; I, là chỉ số giáo dục; I; là chỉ số thu nhập.
HDI nhận giá trị từ 0 đến 1 Theo các nhà chuyên môn đánh giá, muốn tăng HDI lên thêm 0,010, thi thường phải tăng GDP bình quân đầu người lên 18% , tăng tuổi thọ trung bình lên thêm 1,8 năm và tăng tỷ lệ đi học các cấp lên thêm 3%. Qua đó có thể nhận thấy rằng càng phát triển lên mức cao hon, thì càng gặp khó khăn hơn trong việc nâng cao thêm Chỉ số phát triển con người [23].