Phần mở đầu: trình bày lý do thực hiện đề tài cùng với mục tiêu nghiên cứu và nêu rõ giới hạn đề tài cũng nhƣ nội dung và phƣơng pháp thực hiện đề tài. Phần nội dung chính: Chƣơng 1. Tổng quan về công trình nghiên cứu Phần này trình bày các nghiên cứu về lĩnh vực khái quát hóa đối với bản đồ địa lý chung và bản đồ chuyên đề. Cơ sở lý thuyết Chƣơng này trình bày khái niệm về bản đồ chuyên đề, bản đồ thống kê và các phƣơng pháp thể hiện bản đồ đồng thời trình bày công cụ xây dựng bản đồ chuyên đề trong phần mềm ArcGis Trình bày các khái niệm về tỷ lệ bản đồ, bản đồ đa tỷ lệ và bản đồ màn hình (Screen Maps) Trình bày khái quát hóa, các nhân tố ảnh hƣởng đến khái quát hóa và dạng khái quát hóa cùng với công cụ hỗ trợ khái quát hóa bản đồ trong phần mềm ArcGis Chƣơng 3.
Kết quả nghiên cứu Chƣơng này sẽ trình bày khả năng thực hiện khái quát hóa bản đồ chuyên đề thống kê theo phƣơng pháp chấm điểm, biểu đồ bản đồ và đồ giải. Trong mỗi phƣơng pháp sẽ đƣa ra các nguyên tắc thể hiện có liên quan đến tỉ lệ, từ đó chỉ ra các hƣớng thực hiện khái quát hóa có thể có và chọn ra quy trình thực hiện hợp lý và cuối cùng sẽ minh họa với dữ liệu cụ thể Chƣơng 4. Kết Luận Trình bày kết quả đã thực hiện đƣợc của đề tài và đƣa ra những hƣớng phát triển tiếp theo của đề tài 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.
Khái quát hóa đối bản đồ địa lý chung Trong những năm gần đây một số quốc gia trên thế giới đã có nhiều nỗ lực, sáng tạo trong việc nghiên cứu và phát triển các phƣơng pháp, giải thuật, quy trình xử lý và các công cụ khái quát hóa bản đồ Trong giai đoạn 1960 đến 1970 các nhà nghiên cứu đã cố gắng phát triển các giải thuật giúp giảm bớt tính phức tạp và khó khăn của khái quát hóa. Ví dụ trong số rất ít các thuật toán là của Douglas Peucker's (Douglas et al. Đánh giá các thuật toán đƣợc tiến hành từ đầu những năm 1980 (McMaster, 1983; Visvalingam và Whyatt, 1990; Beard, 1991). Trong giai đoạn này tác giả McMaster và Shea (1988) cũng đã nghiên cứu và tổng hợp ra 12 tác vụ của khái quát hóa là: đơn giản hóa (Simlycation), làm trơn (Smoothing), lƣợc bỏ (Aggregation), loại bỏ (Elimination)….
Cùng với các nghiên cứu đó thì trong giai đoạn này các công ty phần mềm cũng sản xuất ra các phần mềm liên quan đến khái quát hóa bán tự động nhƣ Esri (Mỹ), Map General của hãng Intergrap (Mỹ), LaserScan (Anh) … Kế thừa những nghiên cứu ở trên việc nghiên cứu về tự động thực hiện khái quát hóa của một số yếu tố nội dung của bản đồ địa hình đƣợc tiến hành nhƣ: Nghiên cứu của tác giả Dan Lee và Paul Hardy (2006) trình bày về các giải pháp đơn giản hóa các tòa nhà và loại bỏ các đƣờng bao để tạo tim đƣờng một cách tự động khi thu nhỏ tỷ lệ bản đồ. Nhóm tác giả Fantien Stoter et al. (2009) đã kết hợp nghiên cứu về vấn đề xác định và so sánh, đánh giá các tiêu chuẩn cho việc khái quát hóa tự động bản đồ địa hình. 7 Nghiên cứu của tác giả Droppova (2011) đã trình bày về khả năng sử dụng các công cụ khái quát hóa cho dữ liệu vector trong môi trƣờng ArcGis và dựa trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.
Chuẩn hóa công thức cho việc tự động chuyển đổi kí hiệu đối với đối tƣợng dân cƣ và đƣờng giao thông cho bản đồ đa tỷ lệ của Anton Podolsky và Timofey Samsonov (2013).Trong bài tác giả đƣa ra giải thuật toán cho chuyển tỷ lệ từ 1/8.000, bao gồm các dãy tỷ lệ (1/16. Nghiên cứu của nhóm tác giả Jantien Stoter et al. (2014) trong đề tài tác giả đã trình bày về việc hoàn toàn tự động khái quát hóa bản đồ tỷ lệ 1/50k từ bản đồ tỷ lệ 1/10k. Trong nƣớc, cũng có các tác giả nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Vũ Xuân Cƣờng (2013) đã trình bày nghiên cứu về ứng dụng Arcgis xây dựng bộ công cụ hỗ trợ khái quát hóa tự động cho dữ liệu bản đồ địa hình tỷ lệ lớn.
Kết quả đã xây dựng đƣợc bộ công cụ hỗ trợ khái quát hóa bản đồ địa hình tỷ lệ lớn cho lớp đối tƣợng dạng đƣờng. Tác giả Trần Quỳnh Anh (2013) đã trình bày mô tả một thực nghiệm về việc xây dựng phần mềm xử lý tự động vấn đề dịch vị của các đối tƣợng bản đồ trong quá trình tự động khái quát hóa bản đồ đa tỉ lệ. Nhìn chung, việc nghiên cứu khái quát hóa tự động bản đồ địa lý đã rất đƣợc quan tâm và có những kết quả rõ rệt.Khái quát hóa cho lớp chuyên đề Tiếp theo đó là các nghiên cứu về tự động tổng quát bản đồ chuyên đề của các tác giả nhƣ: Tác giả Nina Yurova và Timofey Samsonov (2013), nghiên cứu về vấn đề tự động lựa chọn kí hiệu cho biểu đồ và đồ giải trong bản đồ chuyên đề đa tỷ lệ. Trong đề tài tác giả đã đƣa ra công thức cho thay đổi kích thƣớc của biểu đồ và đƣa 8 ra ngƣỡng thay đổi màu sắc, phân nhóm lại dữ liệu khi thay đổi tỷ lệ cho phƣơng pháp đồ giải.
Tác giả Sandra Demarmels et al. (2017) đã trình bày các hình thức khái quát hóa có thể có đối với phƣơng pháp biểu hiện bản đồ chuyên đề. Tuy nhiên các tác giả chƣa đƣa ra ngƣỡng (hay tỷ lệ) hoặc công thức chuyển đổi hình thức. Văn Ngọc Trúc Phƣơng và Lê Minh Vĩnh (2015) trình bày về thiết kế hình thức bản đồ đa tỉ lệ với phƣơng pháp đồ giải, tác giả đã đƣa ra ngƣỡng phân nhóm dữ liệu và thang màu sắc thể hiện cho các cấp đơn vị thống kê khác nhau.
Qua các nghiên cứu cho thấy các nƣớc trên thế giới đã đạt rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng khái quát hóa bản đồ. Đặc biệt các nghiên cứu không chỉ ngày càng chú trọng đến vấn đề khái quát hóa tự động các lớp đối tƣợng trên bản đồ địa hình mà còn chú trọng đến việc khái quát hóa cho cả bản đồ chuyên đề. Những nghiên cứu này cho thấy vấn đề khái quát hóa tự động là một hƣớng nghiên cứu đang đƣợc quan tâm trong Bản đồ học. Các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu về khái quát hóa bản đồ chuyên đề sẽ đƣợc sử dụng nhƣ những cơ sở lý thuyết ban đầu trong nghiên cứu của luận văn.
Khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý.Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10010' – 10038' vĩ độ bắc và 106022' – 106054' kinh độ đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dƣơng, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đƣờng bộ, nằm ở ngã tƣ quốc tế giữa các con đƣờng hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á.
Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đƣờng chim bay. Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế. Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nƣớc, cảng Sài Gòn với năng 9 lực hoạt động 10 triệu tấn/năm. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đƣờng bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
Ðịa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình. Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lƣợn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, nhƣ đồi Long Bình (quận 9).
Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên dƣới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m. Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này có độ cao trung bình 5-10m.
Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt. Khí hậu, thời tiết Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng nhƣ các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu - thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mƣa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trƣờng cảnh quan sâu sắc. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khí tƣợng chủ yếu; cho thấy những đặc trƣng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh nhƣ sau: - Lƣợng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung bình/tháng 160-270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27 10 C. Nhiệt độ cao tuyệt đối 400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,80C.
Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,80C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,70C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-280C. Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trƣờng đô thị Lƣợng mƣa cao, bình quân/năm 1.718 mm (1908) và năm nhỏ nhất 1. Số ngày mƣa trung bình/năm là 159 ngày.
Khoảng 90% lƣợng mƣa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thƣờng có lƣợng mƣa cao nhất. Các tháng 1,2,3 mƣa rất ít, lƣợng mƣa không đáng kể. Trên phạm vi không gian thành phố, lƣợng mƣa phân bố không đều, có khuynh hƣớng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc.