CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại. Quan ñiểm của các nhà kinh tế về chính sách nợ tới giá trị doanh nghiệp. Quan ñiểm truyền thống.
Theo quan ñiểm này thì mục tiêu của một quyết ñịnh tài chính không những là tối ña hóa giá trị doanh nghiệp mà còn cực tiểu hóa chi phí sử dụng vốn. Họ thấy rằng luôn có sự tương ñồng giữa hai mục tiêu này, nghĩa là chi phí sử dụng vốn giảm sẽ làm tăng tỷ suất doanh lợi và từ ñó làm tăng giá trị công ty. Như vậy muốn gia tăng giá trị công ty thì phải tìm cách giảm thiểu chi phí sử dụng vốn. Việc làm này ñồng nghĩa với việc làm gia tăng ñòn cân nợ trong cấu trúc vốn.
Bởi vì chi phi sử dụng nợ thấp hơn chi phí sử dụng vốn cổ phần thường, do ñó gia tăng ñòn cân nợ sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC). (Nguồn: Trần Ngọc Thơ - Chủ biên, Tài chính doanh nghiệp hiện ñại – NXB Thống kê, 2005 – Chương 14) Quan ñiểm của M&M (Merton Miller & Franco Modigliani) M&M cho rằng lập luận theo quan ñiểm truyền thống là vô lý. Các ông ñã ñưa ra lập luận của mình trong ñiều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo như sau: • Trường hợp 1: nợ không có rủi ro. Khi gia tăng ñòn cân nợ thì rE không ñứng yên ñể cho WACC giảm mà sẽ tăng tương ứng với sự gia tăng ñòn cân nợ trong cấu trúc vốn, làm cho WACC không thay ñổi.
M&M cho rằng khi gia tăng ñòn cân nợ nếu như ñạt ở mức ñộ thấp hợp lý thì vốn vay của doanh nghiệp không có rủi ro. Nói cách khác, chi phí sử dụng vốn vay rD là không ñổi. ðiều này nói lên rD ñộc lập với ñòn cân nợ và rE sẽ gia tăng tương ứng cùng với sự gia tăng ñòn cân nợ trong cấu trúc vốn. • Trường hợp 2: khi nợ có rủi ro.
Trang 10 Khi công ty vay nợ nhiều hơn thì rủi ro do công ty không có khả năng trả nợ sẽ càng lớn, trái chủ cũng yêu cầu công ty trả cho họ tỷ suất doanh lợi cao hơn. Do ñó, rD sẽ gia tăng cùng với sự gia tăng trong ñòn cân nợ trong cấu trúc vốn. Trong khi ñó, dòng lợi nhuận phát sinh từ tài sản thực của công ty là không ñổi nghĩa là tổng rủi ro của công ty là không ñổi. Nếu các trái chủ dành nhiều rủi ro hơn thì các cổ ñông sẽ chịu rủi ro ít hơn và rE thấp hơn.
Khi công ty tăng cấu trúc vốn vượt quá wD*, rD có khuynh hướng tăng nhưng rE có khuynh hướng giảm, kết quả là WACC vẫn không thay ñổi, chỉ có tỷ lệ rủi ro tạo ra cho trái chủ và cổ ñông không thay ñổi mà thôi. (Nguồn: Trần Ngọc Thơ - Chủ biên, Tài chính doanh nghiệp hiện ñại – NXB Thống kê, 2005 – Chương 14) Những tranh luận của quan ñiểm truyền thống và quan ñiểm M&M Mặc dù ngày nay lý thuyết M&M ñược ñánh giá rất cao nhưng quan ñiểm truyền thống rất có giá trị. Do ñó ta phải kết hợp 2 quan ñiểm này: vay nợ vừa phải thì vẫn mang lại hiệu quả cao hơn chỉ chú trọng tài trợ bằng nguồn vốn cổ phần. Nói cách khác là trong thực tế sẽ tồn tại một mức nợ tối ưu ñể cực tiểu chi phí sử dụng vốn (wD*).
M&M ñã nghiên cứu lý thuyết này trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Trong thực tế, các doanh nghiệp lại tiến hành sản xuất kinh doanh trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, sẽ có công ty vay nợ rất dễ dàng với lãi suất rất thấp nhưng cũng có công ty vay nợ với lãi suất rất cao. Do ñó, theo tác giả luận văn, một công ty nên quyết ñịnh sử dụng vốn bao nhiêu là hợp lý tùy thuộc vào công ty ñó ñang ở giai ñoạn nào của chu kỳ kinh doanh, nếu ñang ở giai ñoạn tăng trưởng mở rộng kinh doanh sẽ làm gia tăng doanh thu nên gia tăng ñòn cân nợ; còn nếu như không còn khả năng tăng thêm doanh thu thì nên giảm tỷ lệ nợ trong cấu trúc vốn ñể tránh chi phí lãi vay quá cao. Khái niệm nợ xấu.
Nợ xấu theo quan ñiểm thế giới. Theo ngân hàng Trung ương Liên minh Châu Âu. Nợ xấu trong các NHTM gồm: Trang 11 - Những khoản nợ không thể thu hồi ñược: những khoản nợ ñã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ ñể ñòi bồi thường từ nợ; người mắc nợ bỏ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản ñể thanh toán nợ; những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc ñược với người mắc nợ hoặc không thể tìm ñược người mắc nợ; những khoản nợ mà khách nợ ñã chấm dứt hoạt ñộng kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không ñủ ñể trả nợ. - Nợ có thể thu không thanh toán ñầy ñủ cho ngân hàng: là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không ñủ trả nợ.
Những khoản nợ mà lãi hoặc gốc có thời hạn thanh toán nhưng người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng ñể trả, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi ñược ñầy ñủ. Theo ñịnh nghĩa Nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hợp quốc. Về cơ bản một khoản nợ ñược coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên ñã ñược nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán ñã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn ñể nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ ñược thanh toán ñầy ñủ. Theo Basel II.
Tháng 6 năm 2004, ủy ban Basel ñã xây dựng Hiệp ñịnh mới về “Tiêu chuẩn vốn quốc tế” - mà chúng ta vẫn gọi là Basel II, và ñược chỉnh sửa liên tục trong các thời gian tiếp theo. Theo ñó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu của nội bộ ñể ñánh giá vấn ñề rủi ro tín dụng, từ ñó xác ñịnh hệ số an toàn vốn tối thiểu. Cụ thể, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ ñể xác ñịnh khả năng tổn thất tín dụng. Các ngân hàng sẽ xác ñịnh các biến số như PD - Probability of Default: xác suất khách hàng không trả ñược nợ; LGD: Loss Given Default - tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD: Exposure at Default - tổng dư nợ của khách hàng tại thời ñiểm khách hàng không trả ñược nợ.
Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác ñịnh ñược EL: Expected Loss - tổn thất có thể ước tính. Với mỗi kỳ hạn xác ñịnh, tổn thất có thể ước tính ñược tính toán dựa trên công thức sau: Trang 12 EL = PD x EAD x LGD 1. Nợ xấu theo quan ñiểm Việt Nam. Quan niệm về nợ xấu của ngân hàng trước năm 2000.
Trước năm 2000, hệ thống NHTM Việt Nam chưa có quy ñịnh cụ thể về nợ xấu mà chỉ có các quy ñịnh về nợ quá hạn, nợ khó ñòi phát sinh do các nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan trong hoạt ñộng tín dụng của các NHTM. Khi ñó, nợ xấu trong thời kỳ này bao gồm các khoản nợ quá hạn, nợ khó ñòi và việc phân loại nợ xấu ñược xác ñịnh theo thời gian quá hạn bao gồm: nợ quá hạn dưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày ñến 180 ngày, nợ quá hạn từ trên 180 ngày ñến 360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày, trong ñó các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày ñược gọi là nợ khó ñòi. Theo quy ñịnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng (TCTD) chỉ có thể chuyển nợ quá hạn ñối với từng kỳ hạn trả nợ bị quá hạn, không ñược chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Việc áp dụng các biện pháp xử lý nợ cụ thể ñược căn cứ vào nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan dẫn ñến nợ quá hạn, nợ khó ñòi không thu hồi ñược.
Quan niệm về nợ xấu theo Quyết ñịnh 149/2001/Qð-TTg. Ngày 05/10/2001, Thủ tướng Chính phủ ñã ban hành Quyết ñịnh số 149/2001/Qð- TTg về việc phê duyệt ñề án xử lý nợ tồn ñọng của các NHTM. Theo Quyết ñịnh này có thể hiểu nợ xấu bao gồm các khoản nợ tồn ñọng phát sinh trước thời ñiểm 31/12/2000 và không có khả năng trả nợ, mặc dù ngân hàng áp dụng nhiều giải pháp theo quy ñịnh hiện hành nhưng vẫn không thu hồi ñược nợ. Như vậy, khác với giai ñoạn trước, các NHTM phân loại các khoản nợ xấu tồn ñọng không căn cứ vào thời gian quá hạn cụ thể mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo ñảm của khoản vay (có tài sản bảo ñảm hoặc không có tài sản bảo ñảm) và tình trạng pháp lý khách hàng (không còn tồn tại hoặc còn tồn tại, hoạt ñộng) ñể phân loại thành 03 nhóm nợ tương ứng với các cơ chế xử lý kèm theo khác nhau, bao gồm: - Nợ xấu tồn ñọng có tài sản bảo ñảm (nợ tồn ñọng nhóm 1); Trang 13 - Nợ xấu tồn ñọng không có tài sản bảo ñảm và không còn ñối tượng thu hồi (nợ tồn ñọng nhóm 2); - Nợ xấu tồn ñọng không có tài sản bảo ñảm nhưng con nợ ñang còn tồn tại, hoạt ñộng (nợ tồn ñọng nhóm 3).
Quan niệm về nợ xấu theo Quyết ñịnh 493/2005/Qð-NHNN (giai ñoạn hiện nay). Theo Quyết ñịnh số 493/2005/Qð-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống ñốc NHNN Việt Nam về việc ban hành “Quy ñịnh về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng ñể xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt ñộng ngân hàng của tổ chức tín dụng”, Quyết ñịnh số 18/2007/Qð-NHNN của Thống ñốc NHNN Việt Nam ngày 25/04/2007 về việc sửa ñổi, bổ sung một số ñiều của Quyết ñịnh số 493/2005/Qð-NHNN,thì “Nợ xấu là những khoản nợ ñược phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.