Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Nam Sài Gòn Chương 3. Một số giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Nam Sài Gòn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Một số vấn đề chung về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử (Electronic Banking viết tắt là e-banking) được hiểu đơn giản là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh phân phối điện tử (Jayshree Chavan, 2013).
Theo Hertzum và các cộng sự (2004), định nghĩa dịch vụ e-banking là dịch vụ ngân hàng dựa trên cơ sở web. Tuy nhiên, khái niệm e-banking được đưa ra tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) 2002 bao hàm hầu như tất cả các lĩnh vực của e- banking. Cụ thể, e-banking đề cập đến việc triển khai các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và bán buôn, của cá nhân và doanh nghiệp trên kênh trực tuyến, bao gồm chuyển khoản, thanh toán, kiểm tra thông tin, tín dụng, cho vay doanh nghiệp và hộ gia đình, kinh doanh thẻ và một số dịch vụ khác. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), “dịch vụ NHĐT là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm kiếm hay mua dịch vụ ngân hàng thông qua việc nối mạng máy tính của mình với ngân hàng.
Dịch vụ NHĐT được giải thích như là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản đã đăng ký tại ngân hàng đó”. Dịch vụ NHĐT là một dạng của thương mại điện tử (electronic commerce hay e-commerce) ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tại điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005 cũng đã đưa ra định nghĩa “giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”. Trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Như vậy, có thể hiểu cụ thể hơn, e-banking là một hệ thống phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm hiểu thông tin hay thực hiện một số giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tóm lại, dịch vụ ngân hàng điện tử hiểu theo nghĩa rộng là sự kết hợp giữa hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông. Lịch sử hình thành và phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Trên thế giới Dịch vụ ngân hàng điện tử lần đầu tiên được giới thiệu đến người tiêu dùng năm 1989 bởi ngân hàng Wellfargo, Mỹ - nơi có thị trường tài chính thuộc loại phát triển nhất thế giới.
Lịch sử hình thành và phát triển của e-banking gắn liền với thương mại điện tử, chính nhờ sự phát triển của TMĐT mà ý tưởng trả tiền cho các mặt hàng mua trực tuyến được phổ biến rộng rãi, tiền điện tử và tài chính điện tử ra đời, trong đó tài chính điện tử được phân nhỏ thành ngân hàng điện tử và các sản phẩm dịch vụ tài chính khác (hình 1. Thƣơng mại điện tử (E-Commerce) Tài chính điện tử Tiền điện tử (E-Finance) (E-Money) Ngân hàng điện tử Các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác (E-Banking) (Other financial services and products) Nguồn: Chavan 2013 Hình 1. Nguồn gốc ra đời của e-banking Khi các tổ chức tài chính mới chỉ bắt tay triển khai các hình thức sơ khai của e-banking những năm 1990s, người tiêu dùng mặc dù do dự với các giao dịch tài chính trên web nhưng thương mại điện tử thì hầu như đã lan tỏa, thông qua các công ty lớn như Amazon, eBay, American Online (Bob Batchelor, 2017). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 E-banking trong lĩnh vực ngân hàng giai đoạn này tăng chậm, tính đến hết quý 3/1999, chỉ có 20% các ngân hàng ở Mỹ cung cấp dịch vụ internet banking, tiện ích đơn giản gồm vấn tin tài khoản, xem lịch sử giao dịch và chuyển tiền giữa các tài khoản.
Đến năm 2000, 80% ngân hàng ở Mỹ cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử. Bank of America trở thành ngân hàng đầu tiên dẫn đầu với 3 triệu khách hàng sử dụng ngân hàng trực tuyến vào năm 2001, chiếm hơn 20% cơ sở khách hàng của họ. Trong khi đó, các định chế tài chính lớn hơn như Citigroup đạt 2,2 triệu khách hàng e-banking trên toàn cầu, J. Morgan Chase ước tính có hơn 750.000 khách hàng và Wells Fargo có 2,5 triệu khách hàng sử dụng e-banking, bao gồm các doanh nghiệp nhỏ.
Tại khu vực Bắc Âu, năm 2001, e-banking được sử dụng bởi hơn 25% dân số ở Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan và 15% dân số ở Đan Mạch (OECD, 2001). Từ sau 2000, dịch vụ NHĐT có sự biến đổi tích cực. Trong năm 2009, một báo cáo của Gartner Group ước tính 47% người trưởng thành ở Hoa Kỳ và 30% Vương quốc Anh sử dụng ngân hàng trực tuyến (Abdul, Mia & Uddin, 2007). Tại Châu Á, e-banking đã có sự phát triển từ rất sớm, quốc gia có sự tăng trưởng e- banking nhanh và ấn tượng nhất là Hàn Quốc, từ 2 triệu người dùng internet- banking năm 2000, đã tăng lên đến 5.3 triệu vào tháng 12/2001.
Đối với khu vực Đông Nam Á, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines là những quốc gia có tốc độ phát triển e-banking nhanh nhất khu vực (Abdul, Mia & Uddin, 2007). NHĐT là sản phẩm của nhiều thế hệ giao dịch điện tử khác nhau, từ máy rút tiền tự động (ATM), ngân hàng điện thoại (phonebanking), PC hoặc HouseBanking, internet banking dựa trên website, v.v, các công nghệ e-banking cũng dần được bổ sung và thay thế. Trong thời đại công nghệ số hiện nay, e-banking đã bước đến sự phát triển quá nhanh, một số các quốc gia trên thế giới đã bắt đầu đưa robot thay thế con người trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, như Brazil, Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và Đài Loan (Jeffry, 2018). Tại Việt Nam Internet lần đầu được ra mắt là từ 1997, trễ hơn nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới nhưng tốc độ tăng trưởng internet cao, tính đến cuối 2018, có 64 triệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 người dùng internet tại Việt Nam.
Sự gia tăng nhanh chóng của internet đã tạo nền tảng tốt để phát triển sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng web. Khi hệ thống SWIFT (Society for Worldwidde Interbank Financial Telecommunications) - Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế ra đời vào 1997, NHĐT tại Việt Nam mới bắt đầu có những bước chuyển biến. Năm 1998, BIDV bắt đầu cung cấp dịch vụ homebanking, khách hàng có thể vấn tin tài khoản, chuyển tiền và thanh toán hóa đơn tại nhà hoặc văn phòng làm việc. Lần lượt các ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, ACB, Eximbank, Techcombank, ANZ, Citibank cũng giới thiệu các sản phẩm e-banking đến khách hàng.
Dịch vụ NHĐT dành cho khách hàng tổ chức còn rất hạn chế, chỉ vài ngân hàng nước ngoài như Citibank, ANZ, Deutsch Bank, HSBC là có cung cấp. Đối với thẻ, từ năm 1993, ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) giới thiệu dịch vụ thanh toán thẻ đầu tiên tại Việt Nam. Tuy nhiên, không được triển khai rộng rãi. Đến năm 2002, chiếc thẻ ghi nợ nội địa (thẻ ATM) mới được Vietcombank chính thức ra mắt.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, thị trường thẻ Việt Nam tính đến hết 2017, có đến 132 triệu thẻ phát hành, 17. Giai đoạn đầu, dịch vụ NHĐT trong hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu cung cấp các dịch vụ đơn giản như rút tiền, vấn tin số dư tài khoản, thông tin tài khoản, cho phép chuyển khoản nội bộ ngân hàng, tra cứu thông tin lãi suất, tỷ giá. Theo Báo cáo được thực hiện bởi IDG Việt Nam năm 2017 về dịch vụ ngân hàng: Hành vi sử dụng của người dùng và xu hướng tại Việt Nam, lượng người dùng sử dụng các dịch vụ NHĐT tăng từ 21% năm 2015 lên 81% vào cuối 2017. Về phía ngân hàng cung cấp dịch vụ, hầu hết tất cả các ngân hàng tại Việt Nam đều triển khai một hoặc một vài dịch vụ e-banking từ truyền thống đến hiện đại, trong đó các 3 NHTM Nhà nước là BIDV, Vietcombank, Vietinbank và một số ngân hàng tư nhân như VPbank, TPBank, ngân hàng Quốc tế (VIB) có triển khai tất cả các sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 phẩm NHĐT trên các nền tảng web, mobile, mạng xã hội và cả không gian giao dịch số (bảng 1.
Tình hình cung cấp các dịch vụ NHĐT của các ngân hàng tại Việt Nam Ngân hàng Internet- Mobile Mạng xã hội Không gian giao banking banking (facebook, dịch số twitter) 7 NHTM Nhà Có Có, trừ NH Có, trừ GP BIDV – eZone nước (bao gồm Xây dựng Bank VCB – DigitalLab cả 3 ngân hàng Vietinbank – mua lại 0 đồng) eFAST & Ipay Có Có Có Citibank số hóa 6 NHTM 100% xác thực giọng nói vốn nước ngoài (đầu 2017) 3 NH liên doanh Có Có Chưa có Chưa có 27 NHTMCP Có Có, trừ NH Có, trừ NH Sài VPBank-TIMO Sài Gòn Gòn Công TPBank- Livebank Công Thương My VIB Thương v. Nguồn: Tổng hợp từ các website ngân hàng Hiện nay, dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới và tại Việt Nam đã rất phát triển với sản phẩm, dịch vụ đa dạng, nhiều tiện ích, hạn mức giao dịch cao, nhanh chóng và mức độ bảo mật thông tin đã được gia tăng đáng kể. Phân loại dịch vụ ngân hàng điện tử Hiện nay có nhiều cách thức để phân loại dịch vụ ngân hàng điện tử, tuy nhiên, phổ biến nhất là phân loại theo tiêu chí kênh phân phối sản phẩm. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), dịch vụ NHĐT bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Internet banking hoặc online banking (dịch vụ ngân hàng trực tuyến) là dịch vụ mà các ngân hàng cung cấp cho khách hàng thông qua hệ thống internet để vấn tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hàng hóa dịch vụ….tại bất kỳ điểm truy cập internet nào và bất cứ thời điểm nào mà không cần phải đến quầy ngân hàng.