Chương 1 KHÁIiQUÁTiCHUNG VÀ QUYiĐỊNHiCỦA PHÁPiLUẬT VỀ NGƯỜIiLẬP DIiCHÚC 1. Kháiiquátichung 1. Kháiiniệm diichúc Từ khi có chế độ tư hữu, Nhà nước ra đời thì quyền thừa kế tài sản đã được pháp luật công nhận và bảo vệ, đây là một quan hệ tồn tại từ rất sớm và như một yếu tố khách quan của xã hội loài người. Ở mỗi một Nhà nước sẽ có những quy định pháp luật về thừa kế khác nhau, chúng thể hiện rõ bản chất giai cấp và gắn liền với Nhà nước đó.
Hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phân chia thừa kế thành thừa kế theo pháp luật (TKPL) và TKDC, trong đó TKDC là một chế định được đánh giá là vô cùng quan trọng trong các quy định pháp luật về thừa kế, là chế định dễ phát sinh các tranh chấp trên thực tế do các quy định của pháp luật về chế định này mặc dù được liên tiếp sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ tuy nhiên vẫn còn phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng. Trong BLDS năm 2015, người ta định nghĩa giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Nếu như bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Có thể hiểu hợp đồng là sự thống nhất về ý chí giữa các bên tham gia vào giao dịch dân sự đó.
Trong khi đó, di chúc cũng là một hình thức của giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương nhưng chỉ thể hiện ý chí của cá nhân người để lại di chúc về việc định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình sau khi chết. Di chúc là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu, ngay từ thời La Mã cổ đại đã tồn tại định nghĩa về di chúc. Định nghĩa này xuất phát từ quan điểm của luật gia Uipian, vị luật gia này cho rằng “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí 9 đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”1. Như vậy, ngay từ thời La Mã con người đã có một cách hiểu tương đối rõ ràng về bản chất, chủ thể cũng như là hiệu lực của di chúc.
Nó được xem là phương tiện truyền tải ý chí của một người và phát sinh hiệu lực từ sau khi người đó chết đi. Theo Luật Anh - Mỹ, Thẩm phán JP Wilde trong vụ Lemage v Goodban (1865) cho rằng, di chúc được hiểu là “tổng hợp các ý định của một người để lại tài sản của mình cho người khác bằng chúc thư và được thực thi hợp lý theo các quy định của pháp luật”2. Xét về mặt thuật ngữ, di chúc còn được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như: chúc thư, di nguyện, di ngôn, chúc ngôn,… Trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2005 từng định nghĩa “Chúc thư làivănibảnichínhithứcighiinhữngiý muốn cuối cùng của một người, đặc biệt là xử lý nhữngitàiisảnicủaimìnhisauikhiichết”3. Theo cách hiểu thông thường, di chúc hay chúc thư được hiểu là hình thức mà một người muốn truyền tải ý nguyện, tâm tư, tình cảm, những lời dặn dò đối với con cháu trước khi người đó chết đi, nó được xem là tâm nguyện cuối cùng của người chết.
Theo truyền thống văn hoá của người Việt, lối sống coi trọng cái tâm, tư tưởng hiếu, lễ, nghĩa,… luôn được coi trọng và đề cao, việc con cháu thực hiện tâm nguyện của người chết là một truyền thống từ lâu đời được con cháu tôn trọng, việc thực hiện di nguyện này là một trong những cách thể hiện sự hiếu thảo, biết ơn của con cháu đối với người đã khuất. Việc làm này được người Việt quan niệm rằng sẽ giúp cho người chết có thể ra đi thanh thản, không còn vướng bận. 1 Nguyễn Đình Huy (2001), “Quyền thừa kế trong Luật La Mã cổ đại”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 04/2001. 2 CAVENDISH LAW – CARDS, Succession 1st Edition, Nxb.
Cavendish, London, 1997, tr.1 trong Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Lê Minh Hùng (chủ biên), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 3 Hoàng Phê (2005), Từ điển tiếng Việt, xuất bản lần thứ 11, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội.
10 Dưới góc độ pháp lý, từ quy định của BLDS năm 1995 đến BLDS năm 2005 và gần đây nhất là BLDS năm 2015 đều có chung một định nghĩa về di chúc. Theo đó “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”, với định nghĩa này có thể hiểu rằng di chúc là phương tiện truyền tải ý nguyện cuối cùng của con người trước khi chết nhằm định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Việc thể hiện ý chí định đoạt tài sản do mình sở hữu nhằm chuyển dịch khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho một hay nhiều người khác sau khi mình chết là một quyền dân sự cơ bản của mỗi con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Pháp luật không giới hạn số lượng di chúc được lập đối với một người, do đó một người có thể có nhiều hơn một bản di chúc kể cả đối với cùng một tài sản, nhưng nó phải được lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của người lập và phù hợp với các quy định của pháp luật nhưng không phải tất cả các di chúc cùng định đoạt một tài sản đều có hiệu lực pháp luật mà chỉ có di chúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập mới được pháp luật công nhận hiệu lực.
Tính đến thời điểm hiện nay, di chúc đã được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau bởi rất nhiều các nhà nghiên cứu, với nhiều định nghĩa được đưa ra từ khái quát cho đến cụ thể nhưng nhìn chung ta có thể hiểu:“Di chúc là một loại giao dịchidânisự được thểihiện dướiidạngihànhiviiphápilýiđơniphương của cá nhân trong đó ghi nhận ý chí của cá nhân đó về việc địnhiđoạt đối vớiitàiisản thuộc quyềnisởihữu củaimìnhicho chủ thể khác và cóihiệu lựcisau khi cá nhân đóichết đi”. Từ định nghĩa này ta đã có thể hiểu một cách toàn diện từ bản chất, nội dung cho đến hiệuilựcicủa di chúc trong cáciquyiđịnhivềithừa kếitheoidiichúc của pháp luậtiViệt Nam. Đặciđiểm của diichúc Về bảnichất,idiichúcilàigiaoidịch dânisự nênimanginhữngiđặciđiểmicủa một giao dịchidânisựinóiichung, tuy nhiên nó là một hình thức đặc biệt thể hiện ý.nhân đó và mang.những đặc trưng nổi bật của một di chúc. 11 Thứinhất,idi chúcilàihànhivi phápilýiđơniphương, tự nguyện của cá nhân4.
Trong quanihệ phápiluật dânisự, có rất nhiều chủ thể như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc có thể là Nhà nước trong một số trường hợp. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ thể trongiquanihệ phápiluật dânisự đều có quyền LDC, do bản chất của di chúc là sự định đoạtitàiisảnithuộc quyền sở hữu riêng của mình sau khi chết, do đó pháp luật chỉ cho phép cá nhân được quyền LDC để lại di sản. Pháp luật không xem việc thể hiện ý chí của pháp nhân trong trường hợp này là di chúc. Trong các đặc điểm của di chúc thì ý chí đơn phương của NLDC có thể xem là đặc điểm khá nổi bật của di chúc, pháp luật cho phép họ có toàn quyền quyết định đốiivới tài sản thuộc quyền sở hữu củaimìnhimà không cần phải được sự đồng ý, thoả thuận hay thông qua người khác, NLDC không có nghĩa vụ phải trao đổi với bất cứ ai kể cả những người thừa kế (NTK) về việc mình LDC định đoạt tài sản do mình làm chủ sở hữu.
Theo quy định của BLDS thì NLDC phải tự nguyện, tức ý chí của NLDC tại thời điểm lập không phụ thuộc, không bị chi phối bởi bất kỳ đối tượng nào. NLDC có toàn quyền trong việc định đoạt khối tài sản của mình, họ được pháp luật cho phép thực hiện những quyền theo ý chí, nguyện vọng của NLDC. Họ có quyền định đoạt tài sản mỗi suất thừa kế ít hay nhiều cho những NTK kể cả NTK không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, thân thích. Nếu như hợp đồng là một giao dịch dân sự với các điều khoản được ký kết thông qua sự thoả thuận, trao đổi, thống nhất ý chí giữa các bên tham gia, thì di chúc chỉ cần ý chí của một bên, tức NLDC mà không cần phải có sự thống nhất với NTK.
Do di chúc phát sinh hiệu lực kể từ sau khi NLDC qua đời, do đó về nguyên tắc NTK hoàn toàn không biết đến việc được hưởng di sản cho đến khi di chúc được công bố. Thứ hai, mục đích chủ yếu của NLDC là chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Pháp luật cho phép công dân có quyền định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, trong đó có việc LDC định đoạt di sản của mình 4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Lê Minh Hùng (chủ biên), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 435.
12 sau khi chết. Mục đích của hợp đồng là cùng hướng đến mục tiêu mà các bên thỏa thuận mong muốn đạt được khi ký kết, có thể là việc chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác nhưng đối với di chúc thì mục đích chính vẫn là chuyển dịch tài sản nhưng là sự dịch chuyển tài sản cho người còn sống sau khi người lập đã chết. NTK theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Thực tế có rất nhiều trường hợp cho thấy không phải tất cả mọi người đều LDC trước khi chết, mà có những người trước khi chết họ chỉ đơn giản là nhắn gửi, thể hiện lời trăn trối nhằm dặn dò con cháu, ví dụ: Dặn dò các con phải thương yêu, đùm bộc lẫn nhau, phải cố gắng học hành, tránh xa các thói hư, tật xấu hoặc cách thức an táng sau khi chết,… Tuy nhiên, với khái niệm về di chúc của BLDS năm 1995 đến năm 2005 và hiện nay là BLDS năm 2015 thì:“Di chúcilàisựithể hiệniý chí của cá nhâninhằmichuyểnitài sảnicủaimình choingười khácisau khiichết”5.
Như vậy, để được công nhận thì nội dung di chúc phải hàm chứa những nội dung về việc chuyển dịch tài sản cho người khác. Pháp luật cho phép công dân có quyền LDC để định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác nhưng chỉ công nhận đối với những di chúc thỏa mãn các điều kiện di chúc hợp pháp. Thứ ba, di chúc là loại giao dịch trọng hình thức hơn các giao dịch thông thường6.