Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan 1. Quản lý văn hóa Khái niệm “Quản lý văn hóa” (QLVH) , là cách gọi tắt của cụm từ “quản lý nhà nước về văn hoá”, có thể được hiểu như sau: QLVH là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, cả nước nói chung. Ngoài ra, QLVH còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (ở nước ta là các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (là mọi thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân…).
QLVH ở nước ta là việc thực thi công tác quản lý từ Trung ương đến địa phương đối với các hoạt động văn hoá nhằm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. QLVH ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm những nội dung chính sau đây: Xác lập hệ quan điểm chủ đạo (hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức), những nguyên tắc cơ bản xây dựng và phát triển văn hóa - là cơ sở của việc xác lập nội dung và phương thức quản lý văn hóa (trong các văn kiện chính thức của Đảng, Hiến pháp, trong Chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ). QLVH bao gồm việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch, xây dựng hành lang pháp lý (bao gồm luật, các cơ chế); xây dựng các chính sách (nhằm khuyến khích sáng tạo, bảo đảm cho sự phát triển của nền văn hoá của đất nước): chính sách kinh tế trong văn hoá - văn hoá trong kinh tế, chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá, chính sách thành lập các quỹ hỗ trợ 15 phát triển văn hoá và tài trợ của các nước, các tổ chức quốc tế cho văn hoá; đào tạo cán bộ quản lý và thanh tra xử lý vi phạm trên lĩnh vực văn hoá. Nói cách khác, QLVH bắt đầu bằng việc xây dựng bộ máy tổ chức, tập hợp đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng QLVH từ Trung ương đến địa phương và theo các lĩnh vực; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành (bộ, ban, ngành, đoàn thể, cơ cấu dân sự); xây dựng hệ thống pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, chỉ thị, văn bản hướng dẫn, quy chế, quy tắc, quy định); xây dựng hệ thống chính sách trên từng lĩnh vực (lối sống, nếp sống, văn học - nghệ thuật, di sản văn hóa, văn hóa dân tộc) và theo địa bàn lãnh thổ (trung ương - địa phương, đô thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi, trong nước - ngoài nước).
Trong hoạch định chính sách, cần lưu ý đến tầm quan trọng của các chính sách đầu tư phát triển các nguồn lực (đặt biệt là đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực) và phương tiện cho văn hóa. Tiếp theo là việc tổ chức, thực thi chính sách và ngoài ra, QLVH còn có công tác giám sát, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm [30, tr. Hoạt động văn hóa thực chất là những hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và sử dụng các giá trị văn hóa nhằm mục đích văn hóa con người để làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội. Đại hội Đảng IX cũng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài lòng trong gia đình, cộng đồng và xã hội” [5].
Trong nội dung học phần “Quản lý hoạt động văn hóa”, khái niệm QLVH như sau: “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [45, tr. Từ khái niệm đó, ta có thể xác định được một số đặc điểm của QLVH, đó là: Khái niệm văn hóa rộng, đa nghĩa nên QLVH không chỉ quản lý các vật hữu hình mà còn quản lý những cái vô hình như tình cảm xã hội, tư tưởng con người: Trong định hướng chung của Nhà nước các thành phần văn hóa là tư nhân, tập thể, đoàn thể, xã hội hay quốc gia đều phải hoạt động theo 16 một chuẩn mực thống nhất trên cơ sở pháp luật chung, thông qua các chính sách văn hóa xã hội; giá trị các hoạt động văn hóa căn cứ chủ yếu vào tính sáng tạo, giúp con người vươn lên trước những đòi hỏi của xã hội; QLVH không được dựa trên lối tư duy cứng nhắc dập khuôn mà phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể; Quản lý văn hóa không thể là sự chuyển dịch của mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Theo Nghị định 103/2009/NĐ-CP đã quy định: Người đứng đầu các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa thuộc phạm vi quản lý của của mình. Quản lý các hoạt động văn hóa chính là một quá trình tổng hợp gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Xây dựng kế hoạch, tổ chức, quản lý các chương trình hoạt động văn hóa ở các đơn vị, cơ quan và các cấp hành chính khác nhau từ cơ sở đến Trung ương.
Đồng thời quản lý những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng cuộc sống của con người trong xã hội. Khái niệm này là cơ sở quan trọng để tác giả luận văn vận dụng trong công tác tổ chức, xây dựng những chương trình, hoạt động văn hóa bổ ích theo đúng chủ trương, hướng dẫn của cơ quan cấp trên. Trên cơ sở phân tích khái niệm quản lý văn hóa nêu trên, hoạt động quản lý âm nhạc dân tộc là việc cơ quan quản lý trực tiếp xác lập các nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện trong lĩnh vực hoạt động biểu diễn âm nhạc dân tộc. Do đó, nội dung quản lý ở lĩnh vực này bao gồm: Xây dựng kế hoạch hoạt biểu diễn; tổ chức thực hiện biểu diễn; thực hiện chương trình quảng bá; phát triển công chúng; quản lý nguồn lực (nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất).
Những nội dung nghiên cứu nêu trên sẽ được triển khai thành các hoạt động cụ thể tại một số đơn vị biểu diễn âm nhạc dân tộc ở Tp. HCM hiện nay. Nghệ thuật biểu diễn Thuật ngữ: Nghệ thuật biểu diễn (NTBD) được hiểu là loại hình nghệ thuật được nghệ sĩ (chuyên nghiệp hoặc không chuyên) sáng tạo nhằm thể hiện cuộc sống bằng hình thức trình diễn trên sân khấu trước khán giả xem trực tiếp. NTBD là loại hình nghệ thuật sử dụng không gian của sân khấu để thể hiện, truyền tải nội dung của các tác phẩm đến với công chúng.
Đây là một lĩnh vực mang tính tổng hợp cao, đa ngành nghề, liên quan đến nhiều cá nhân, tập thể. Nghệ thuật biểu diễn từ xưa đến nay đã bao hàm nhiều chức năng, các chức năng này gắn bó hữu cơ, không tách rời, chúng được thể hiện qua các tác phẩm sân khấu, ca, múa, nhạc. Ở đó, nó vừa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần, vừa góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống của đại bộ phận công chúng; vừa khơi dậy những suy tư của người nghệ sỹ ở người xem, vừa đem lại cho họ niềm vui trong cuộc sống. * Các loại hình Nghệ thuật biểu diễn dân tộc Trong quy chế hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp của Cục Nghệ thuật biểu diễn, ban hành ngày 02 tháng 7 năm 2004, tại Điều 05 có ghi rõ các loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm: Tuồng, Chèo, Cải lương, Xiếc, Múa Rối, Kịch nói, Kịch hát, Kịch câm, Dân ca kịch, Nhạc kịch, các loại hình Ca - Múa - Nhạc, Ngâm thơ, Tấu hài.
Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên đây, tổ chức hoạt động biểu diễn âm nhạc dân tộc là một loại hình nghệ thuật biểu diễn ca – nhạc, được các nghệ sỹ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp biểu diễn thông qua các phương diện âm nhạc, ca từ, không gian trình diễn, trang phục, động tác. Quá trình biểu diễn này được thể hiện trước công chúng cùng với sự trợ giúp của âm thanh, ánh sáng. Âm nhạc Theo định nghĩa UNESCO, âm nhạc là một loại hình văn hóa phi vật thể. Âm nhạc là nghệ thuật âm thanh, là nghệ thuật của thời gian.
Âm nhạc còn là nghệ thuật tổng hợp của sáng tác và biểu diễn [66, tr. Bằng ngôn ngữ của mình, âm nhạc phản ánh cuộc sống, thể hiện cảm xúc của con người, những biến đổi của trạng thái tâm lý… một cách khái quát, ước lệ, thông qua hình tượng âm nhạc. 18 Âm nhạc là nghệ thuật dùng âm thanh và nhịp điệu để diễn tả tư tưởng và tình cảm của con người. Nghệ thuật âm nhạc gắn bó mật thiết với đời sống xã hội.
Loài người sáng tạo âm nhạc, sử dụng âm nhạc để phục vụ cho đời sống tinh thần, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Âm nhạc là hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội, đồng thời nó cũng ảnh hưởng tích cực trở lại đối với tồn tại xã hội. Âm nhạc không chỉ phản ánh xã hội mà còn góp phần cải biến xã hội. Âm nhạc tiến bộ chứa đựng trong nó những tư tưởng tiên tiến của thời đại, mang trong mình những sức mạnh to lớn có thể làm biến cải xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc đã khẳng định: những đoàn quân trùng điệp tiến quân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của dân tộc đã bắt đầu từ những lời kêu gọi hoặc được tiếp thêm sức mạnh bởi những ca khúc hào hùng của dòng ca khúc cách mạng.