Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG VÀ NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ 1. Khái niệm về tín ngưỡng dân gian và văn hóa tín ngưỡng 1. Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian Hiện nay, các cách hiểu chưa thống nhất về khái niệm tín ngưỡng. Chúng tôi xin lược thuật một số cách nêu khái niệm của các tác giả tiêu biểu sau: Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa, tín ngưỡng là “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo” [56, tr.
Cùng quan điểm này, tác giả Đào Duy Anh cho rằng, tín ngưỡng là “lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1, tr. Tác giả Phạm Trường Khang và Hoàng Lê Minh cho rằng: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng vọng và một lực lượng siêu nhiên thần bí, vô hình, tác động đến đời sống tâm linh và được tôn thờ” [24, tr 344]. Các tác giả chỉ ra rằng, Tín ngưỡng không chỉ có nguồn gốc lâu đời trong cuội nguồn văn hóa dân tộc, mà luôn là “lĩnh vực nhạy cảm gây nên nhiều cách đánh giá khác nhau” [24, tr. Tác giả Khai Đăng nhấn mạnh đến nguyên nhân ra đời của loại hình văn hóa này: “Tín ngưỡng: Là một loại niềm tin.
Nó ra đời do trình độ nhận thức con người còn hạn chế. Nhiều hiện tượng về tự nhiên, xã hội và về chính bản thân con người chưa thể lí giải, bên cạnh đó hiện thực cuộc sống còn nhiều đau khổ mà người xưa không thể thoát ra được, do vậy họ đã nghĩ ra tín ngưỡng để gửi gắm ước mơ và thỏa mãn nhu cầu nhận thức” [15, tr. Giáo sư Ngô Đức Thịnh đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” [41, tr.
10 Tác giả Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo phân tích về tín ngưỡng dân gian như sau: “Từ xa xưa, con người cảm nhận thế giới qua những niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên đã hình dung ra thần thánh có sức mạnh diệu kỳ, mặc nhiên thống trị cuộc sống dân gian. Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục. Tất cả những điều này làm nên tín ngưỡng dân gian” [25, tr. Có thể thấy, Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng.
Nhìn chung, tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Các tác giả trên đều thống nhất ở một điểm, đó là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên nào đó (có thể là tự nhiên hay con người). Ở khía cạnh này, tín ngưỡng giống với tôn giáo. Tất nhiên, đa số tôn giáo đều có nguồn gốc từ một tín ngưỡng nào đó, nhưng không phải mọi tín ngưỡng đều trở thành tôn giáo (chẳng hạn tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt).
Nói cách khác, tín ngưỡng khi được quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, giáo đường, giáo luật, giáo dân… thì đủ điều kiện trở thành tôn giáo. Như vậy, trong tín ngưỡng sẽ có tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng tôn giáo. Mặc dù rất khó bóc tách hai khái niệm này nhưng không thể đồng nhất nó là một, vì để trở thành tín ngưỡng tôn giáo cần qua một bước quy phạm hóa mà chúng tôi vừa nêu. Nói như Nguyễn Hữu Thông, “Dù hiểu trên góc độ nào, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một nhu cầu của xã hội.
Và một khi những nhu cầu ấy chưa được những hình thái khác của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tín ngưỡng - tôn giáo vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý” [42, tr. Từ những lược thuật như trên, có thể hiểu, Tín ngưỡng dân gian là niềm tin của quần chúng nhân dân vào một hiện tượng siêu nhiên chi phối đến cuộc sống của con người mà họ không thể làm chủ, giải thích được. Từ đó các cá nhân và 11 cộng đồng cùng nhau qui ước thành niềm tin và tôn thờ với ước mong cuộc tốt đẹp hơn. Về nguồn gốc nảy sinh là do sự tác động của thế giới tự nhiên đến con người.
Về hình thức biểu tượng là do mỗi cộng đồng qui ước, về cách thức truyền đạt là do dân gian truyền miệng. Luận văn căn cứ vào ba đặc điểm này của tín ngưỡng dân gian để khảo sát tín ngưỡng dân gian của người Khmer ở Trà Cú. Khái niệm về văn hóa tín ngưỡng Tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của con người. Và như đã nói ở phần trên, cơ sở của nó là niềm tin vào sự tồn tại của các lực lượng siêu nhiên nằm ngoài giới hạn hiểu biết của con người hiện tại; là sự ngưỡng vọng vào cái thiêng mà con người không tri nhận được bằng cảm giác.
Đúng như Giáo sư Ngô Đức Thịnh nhận định: “Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ” [41, tr. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, tức là “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnh đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần – tư tưởng, đời sống tình cảm,… Có thể nói, bản thân các tôn giáo, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa đặc thù. Vì tín ngưỡng là môi trường nẩy sinh và nuôi dưỡng nhiều loại hình văn hóa dân gian khác.
Một hình thức tín ngưỡng nào đó trong quá trình hình thành và phát triển đã tích hợp được các giá trị văn hóa khác nhau (như di tích, lễ hội, các loại hình nghệ thuật diễn xướng khác…) gọi là văn hóa tín ngưỡng. Từ những căn cứ phân tích trên chúng tôi tạm đưa ra quan niệm về văn hóa tín ngưỡng như sau: Văn hóa tín ngưỡng là toàn bộ những giá trị vật chất, tinh thần và cách thức mà con người ngưỡng vọng và tôn thờ, là niềm tin của nhiều cá nhân trong cộng đồng về một lực lượng siêu nhiên, một quyền năng siêu phàm có ảnh 12 hưởng nhất định đến cộng đồng, cá nhân làm nên đặc trưng văn hóa của một cộng đồng dân tộc. Khái quát về người Khmer ở huyện Trà Cú 1. Vài nét về huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh 1.
Điều kiện tự nhiên, địa lý Huyện Trà Cú nằm ở Tây nam của tỉnh Trà Vinh; phía Bắc giáp với huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành; phía Nam giáp với huyện Duyên hải; phía Tây giáp sông Hậu, ngăn cách với huyện Cù Lao Dung của tỉnh Sóc Trăng; phía Đông giáp với huyện Cầu Ngang. Về hành chính, huyện có 19 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: An Quãng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, Đại An, Đôn Châu, Đôn Xuân, Long Hiệp, Tân Hiệp, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Kim Sơn, Tập Sơn, Tân Sơn, Phước Hưng, Định An, Hàm Giang, Hàm Tân và thị trấn Trà Cú, thị trấn Định An. Huyện Trà Cú rộng khoảng 36.000 hecta, cách tỉnh lỵ 34km đường bộ. Trà Cú mang đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển, cạnh dài nhất chạy dọc theo sông Hậu, chia thành hai vùng: Vùng ven sông và vùng ven biển đất thấp sình lầy, kênh rạch chằng chịt, phía trong cao hơn có nhiều giồng đất chạy theo hướng Đông – Tây.
Địa hình có độ cao trung bình phân bố từ 0,4 – 0,8m so với mực nước biển. Nhờ đường thủy: sông, kênh, rạch và sông theo ra cửa biển Định An nên việc giao lưu giữa Trà Cú với các nơi rất thuận lợi, có quan hệ kinh tế khắng khít, thường xuyên với các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ,… và nhiều nơi khác. Nhưng về đường bộ chỉ có lộ 36 từ tỉnh lỵ qua Châu Thành đến Trà Cú dài 34km, rồi đi Duyên Hải, lộ 37 từ Trà Ôn, Cầu Kè đến Tiểu Cần, từ đó đi Tập Sơn, Trà Cú. Ngoài ra còn có 3 hương lộ và một số lộ nhỏ trên các giồng đất cát.
Huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; nhiệt độ trung bình từ 24,9 – 320C; tổng lượng mưa trung bình trong năm đo được khoảng 1.900mm, phân bố không đều theo không gian và 13 thời gian, có xu hướng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Những biến động phân bố của mưa thường gây rủi ro cho vụ lúa Hè Thu và lúa Mùa. Nhìn chung khí hậu huyện Trà Cú mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao ổn định, nắng và bức xạ mặt trời rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nếu có đủ nước ngọt và vốn đầu tư có thể làm thâm canh 2 – 3 vụ cây ngắn ngày trong năm, cho năng xuất cao. Với điều kiện tự nhiên như trên đã tạo nhiều thuận lợi cho những cư dân nông nghiệp như người Khmer và người Việt phát triển sản xuất.
Tình hình dân cư và lịch sử phát triển Lịch sử hình thành và phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc – đa văn hóa Việt Nam. Trong suốt quá trình lịch sử lâu dài, người Khmer ở huyện Trà Cú đã gắn bó, đoàn kết với người Kinh, người Hoa cùng nhau chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền Tổ Quốc. Ban đầu người Khmer làm ruộng rẫy, làm vườn, trồng bông, trồng dâu, làm các nghề thủ công trên các giồng đất cao, sinh sống theo phum, sóc, có chùa cùng các lễ hội theo tập tục của người Khmer. Người Việt, người Hoa ở ven sông, ven biển làm vườn, làm ruộng nước, các nghề chày lưới, khai thác thủy sản, hải sản, làm các nghề thủ công, ngoài ra người Hoa còn buôn bán tập trung ở những nơi thị tứ.